Cam kết 100% Thuốc chính hãng
Đổi trả trong 30 ngàyGiao nhanh 2 giờ
Tải app An Khang - Freeship mọi đơn

Slinda thuốc tránh thai hằng ngày (1 vỉ x 28 viên)

Không kinh doanh

Mã: 109413

Thuốc này chỉ dùng theo đơn của bác sĩ. Vui lòng sao chép thông tin sản phẩm và gửi cho dược sĩ qua Zalo để được tư vấn

Sao chép thông tin sản phẩm
1/13

Thông tin sản phẩm

Công dụng
Thuốc tránh thai hàng ngày
Thành phần chính
Drospirenone
Đối tượng sử dụng
Thuốc kê đơn - Sử dụng theo chỉ định của Bác sĩ
Thương hiệu
Exeltis
Nhà sản xuất
LABORATORIOS LEON FARMA

Hướng dẫn sử dụng

Mọi thông tin dưới đây đã được Dược sĩ biên soạn lại. Tuy nhiên, nội dung hoàn toàn giữ nguyên dựa trên tờ Hướng dẫn sử dụng, chỉ thay đổi về mặt hình thức.

1. Thành phần

Mỗi viên nén màu trắng có hoạt tính chứa:

  • Thành phần hoạt chất: Drospirenone 4,0 mg;
  • Thành phần tá dược: Microcrystalline cellulose, Lactose anhydrous, colloidal silicon dioxide, magnesium stearate, white coating system (Polyvinyl alcohol partially hydrolyzed, titanium dioxide, polyethylene glycol (macrogol 3350), talc).

Mỗi viên nén màu xanh lá có giá dược chứa:

  • Thành phần tá dược: Lactose monohydrate, corn starch, povidone K-30, colloidal silicon dioxide, magnesium stearate, green coating system (Hypromellose 2910, "15mPa.s", Polysorbate 80, Titanium dioxide, FDFC Blue 2 aluminium lake, Yellow ferric Oxide).

2. Công dụng (Chỉ định)

Thuốc tránh thai đường uống.

3. Cách dùng - Liều dùng

- Cách dùng

Đường uống.

- Liều dùng

Uống 1 viên mỗi ngày trong 28 ngày liên tiếp: uống 1 viên thuốc có hoạt tính màu trắng 1 ngày trong 24 ngày đầu tiên và uống 1 viên giả dược màu xanh lá 1 ngày trong 4 ngày tiếp theo. Thuốc phải được uống vào cùng một thời điểm trong ngày để khoảng cách giữa hai viên luôn là 24 giờ. Nên uống thuốc theo thứ tự hiển thị trên vỉ. Nhãn dán ngày đầu ngày sử dụng với 7 ngày trong tuần được cung cấp trong hộp thuốc, người sử dụng nên chọn nhãn bắt đầu là ngày đầu tiên uống thuốc và dán vào vỉ.

Uống viên thuốc đầu tiên vào ngày đầu tiên của chu kỳ kinh nguyệt. Sau đó, tiếp tục uống các viên khác. Vỉ tiếp theo được bắt đầu ngay sau khi kết thúc vỉ trước đó, không có ngày nghỉ giữa 2 vỉ.

Bắt đầu dùng Slinda

  • Không sử dụng phương pháp tránh thai hormone trước đó (trong tháng trước)
    Bắt đầu uống thuốc vào ngày đầu tiên của chu kỳ kinh nguyệt (ngày đầu tiên có kinh nguyệt) và không cần thiết có biện pháp tránh thai bổ sung.
  • Sau khi chấm dứt thai kỳ ở ba tháng đầu
    Sau khi chấm dứt thai kỳ ở ba tháng đầu, nên bắt đầu cùng Slinda ngay. Không cần sử dụng phương pháp tránh thai bổ sung.
  • Sau khi sinh hoặc sau chấm dứt thai kỳ ở ba tháng giữa thai kỳ
    Nên bắt đầu dùng Slinda từ 21 đến 28 ngày sau khi sinh hoặc sau chấm dứt thai kỳ ở ba tháng giữa thai kỳ. Nếu bắt đầu dùng Slinda sau khoảng thời gian này nhưng chưa có kinh nguyệt, phải loại trừ khả năng mang thai và sử dụng biện pháp tránh thai bổ sung trong tuần đầu tiên.
  • Phụ nữ cho con bú: xem mục SỬ DỤNG THUỐC CHO PHỤ NỮ CÓ THAI VÀ CHO CON BÚ.
  • Đổi từ biện pháp tránh thai hormone kết hợp (thuốc tránh thai đường uống kết hợp (COC), vòng âm đạo hoặc miếng dán qua da)
    Nên bắt đầu dùng Slinda tốt nhất là ngày sau ngày uống viên có hoạt tính cuối cùng (viên thuốc cuối cùng chứa hoạt tính) của vỉ COC trước đó hoặc vào ngày tác vòng âm đạo hoặc miếng dán qua da. Không cần thiết có biện pháp tránh thai bổ sung.
    Cũng có thể bắt đầu Slinda trễ nhất vào ngày sau khoảng nghỉ dùng thuốc thông thường, sau ngày tháo vòng, miếng dán hoặc sau thời gian dùng giả dược khi dùng biện pháp tránh thai hormone kết hợp trước đó, nhưng trong 7 ngày đầu uống thuốc, cần thêm biện pháp tránh thai màng mỏng chắn.
  • Đổi từ biện pháp chỉ chứa progestogen (viên uống tránh thai chỉ chứa progestogen (POP), thuốc tiêm, que cấy tránh thai) hoặc từ dụng cụ đặt tử cung phóng thích chỉ chứa progestogen (IUS)
    Có thể đổi sang dùng Slinda vào bất kỳ ngày nào khi ngừng thuốc chỉ chứa progestogen (POP) khác và có thể bắt đầu dùng Slinda vào ngày hôm sau, trong vòng 24 giờ. Có thể đổi từ que cấy hoặc dụng cụ đặt tử cung sang Slinda vào ngày tháo que cấy hoặc dụng cụ đặt tử cung. Có thể đổi từ việc dùng thuốc tránh thai đường tiêm và bắt đầu sử dụng Slinda vào ngày ngày tiêm thuốc tránh thai tiếp theo. Không cần bổ sung biện pháp tránh thai khác trong các trường hợp này.

Trường hợp rối loạn tiêu hóa

Nếu rối loạn tiêu hóa nghiêm trọng (như nôn hoặc tiêu chảy), có thể sẽ làm giảm khả năng hấp thu thuốc, do đó nên có biện pháp tránh thai bổ sung.

Nếu nôn hoặc tiêu chảy xảy ra trong vòng 3 – 4 giờ sau khi uống thuốc, nên uống viên mới (viên thay thế) càng sớm càng tốt. Viên thuốc mới nên được uống trong vòng 24 giờ so với thời gian uống thuốc thông thường nếu có thể. Nếu quá 24 giờ thì áp dụng theo mục "Xử trí khi quên thuốc". Nếu người sử dụng không muốn thay đổi lịch uống thuốc thông thường, nên lấy thêm viên thuốc từ một vỉ khác.

Trẻ em

An toàn và hiệu quả của Slinda đã được thiết lập ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản. An toàn và hiệu quả được dự kiến là như nhau đối với thiếu niên dưới 18 tuổi và phụ nữ từ 18 tuổi trở lên. Không chỉ định trước ngày cho thiếu nữ chưa có kinh nguyệt.

- Quá liều

 

- Quên liều

Trước tiên được uống mỗi 24 giờ. Nếu thời gian sử dụng một viên thuốc bất kỳ trễ ít hơn 12 giờ, tác dụng tránh thai không bị giảm. Nên uống viên thuốc bị quên ngay khi nhớ ra và tiếp tục dùng thuốc như bình thường.

Nếu thời gian sử dụng một viên thuốc có hoạt tính trễ hơn 24 giờ, tác dụng tránh thai có thể giảm và cần xem xét dùng phương pháp màng chắn như bao cao su trong 7 ngày tiếp theo. Nên uống viên bị quên ngay khi nhớ ra, ngay cả khi phải uống 2 viên cùng một lúc. Sau đó, tiếp tục dùng thuốc như bình thường. Nếu quên thuốc trong tuần đầu tiên sau khi bắt đầu Slinda và có giao hợp trong tuần trước khi quên thuốc, cần xem xét khả năng mang thai.

Nếu quên thuốc trong tuần thứ ba uống thuốc, nguy cơ giảm độ tin cậy có thể xảy ra do gần đến khoảng thời gian 4 ngày không dùng hormone. Tuy nhiên, bằng cách điều chỉnh lịch uống thuốc, vẫn có thể ngăn ngừa được nguy cơ giảm khả năng tránh thai. Nên uống viên thuốc bị quên cuối cùng ngay khi nhớ ra, ngay cả khi phải uống cùng lúc 2 viên cùng lúc. Sau đó, tiếp tục uống các viên thuốc hoạt tính như bình thường. Chuyển sang không uống các viên giả dược và tiếp tục chuyển sang các viên có hoạt tính ở vỉ mới.

Viên giả dược màu xanh lá bị quên có thể bỏ qua. Tuy nhiên, các viên giả dược nên được bỏ qua để tránh kéo dài khoảng thời gian nghỉ giữa việc uống các viên thuốc có hoạt tính.

4. Chống chỉ định

Không sử dụng các thuốc tránh thai chỉ có progestogen (POPs) như Slinda khi có bất kỳ tình trạng nào được liệt kê dưới đây. Nếu bất kỳ tình trạng nào xuất hiện lần đầu tiên trong quá trình sử dụng Slinda, nên ngừng sử dụng thuốc ngay lập tức:

  • Rối loạn huyết khối tĩnh mạch tiến triển.
  • Đang mắc hoặc có tiền sử bệnh gan nặng mà chức năng gan chưa trở lại bình thường.
  • Suy thận nặng hoặc suy thận cấp.
  • Suy tuyến thượng thận.
  • Đã biết hoặc nghi ngờ các khối u ác tính nhạy cảm với steroid sinh dục.
  • Ra huyết âm đạo không rõ nguyên nhân.
  • Quá mẫn cảm với hoạt chất hoặc với bất kỳ tá dược nào.

5. Tác dụng phụ

Thay đổi chu kỳ kinh nguyệt là phản ứng bất lợi thường được báo cáo trong các thử nghiệm lâm sàng (xem mục ĐẶC TÍNH DƯỢC LỰC HỌC).

Các phản ứng bất lợi thường được báo cáo nhất trong các thử nghiệm lâm sàng dài hạn với hơn 9 chu kỳ điều trị với drospirenone (4,0 mg) là mụn trứng cá (3,8%), rong huyết (2,9%), đau đầu (2,7%) và đau vú (2,2%).

Bảng liệt kê các phản ứng bất lợi

Tất cả các phản ứng bất lợi được báo cáo trong các thử nghiệm lâm sàng ngắn, dài hạn với Slinda được liệt kê trong bảng dưới đây theo hệ cơ quan và tần suất: rất thường gặp (≥ 1/10), thường gặp (≥ 1/100 đến ≤ 1/10), ít gặp (≥ 1/1.000 đến ≤ 1/100), hiếm gặp (≥ 1/10.000 đến ≤ 1/1.000).

Phân loại theo hệ cơ quan (MedDRA phiên bản 17.1)Thường GặpÍt GặpHiếm Gặp
Nhiễm khuẩn và nhiễm ký sinh trùng Nhiễm Candida 
U lành tính, ác tính không xác định U xơ tử cung 
Máu và hệ bạch huyết Thiếu máu 
Rối loạn hệ thống miễn dịch Mẫn cảm 
Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng Tăng cảm giác thèm ăn, Tăng kali huyết 
Rối loạn tâm thầnRối loạn ham muốn tình dục, rối loạn cảm xúcTriệu chứng lo âu, trầm cảm, tâm trạng chán nản 
Rối loạn hệ thần kinhĐau đầuChóng mặt 
Rối loạn mắt  Không dung nạp kính áp tròng
Rối loạn mạch máu Đỏ bừng mặt, tăng huyết áp 
Rối loạn tiêu hóaBuồn nôn, Đau bụngNôn mửa, tiêu chảy, táo bón 
Rối loạn da và mô dưới daMụn trứng cáRụng tóc, tăng tiết mồ hôi, phát ban, bệnh bã nhờn, ngứa, viêm da 
Rối loạn thận và tiết niệu  Đa niệu
Rối loạn hệ sinh sản và vúKhó chịu ở vú, rong huyết, xuất huyết âm đạo, đau bụng kinh, kinh nguyệt không đềuVô kinh, rối loạn kinh nguyệt, đau vùng xương chậu, u nang buồng trứng, khô âm đạo, dịch tiết âm đạo, âm đạo tiết dịchU nang vú, loạn sản cổ tử cung, Vú tiết sữa, Ngứa âm hộ-âm đạo
Rối loạn chung và tại vị trí sử dụng thuốc Mệt mỏi, phù ngoại biên 
Theo điều traTăng cânTăng transaminase, tăng bilirubin huyết, tăng creatinine phosphokinase, tăng gamma-glutamyltransferase, tăng triglyceride huyếtGiảm cân

Thông báo ngay cho bác sĩ hoặc dược sỹ những phản ứng có hại gặp phải khi sử dụng thuốc!

6. Lưu ý

- Thận trọng khi sử dụng

Nếu có bất kỳ tình trạng/yếu tố nguy cơ nào được đề cập dưới đây, nên cân nhắc giữa lợi ích và nguy cơ của Slinda có thể xảy ra cho từng phụ nữ cụ thể và thảo luận với họ trước khi quyết định sử dụng Slinda. Trong trường hợp bất kỳ tình trạng nào trở nên nặng nặng, trầm trọng hoặc xuất hiện lần đầu tiên trong thời gian sử dụng thuốc, người sử dụng nên liên hệ với bác sĩ. Bác sĩ sẽ quyết định có nên ngừng sử dụng Slinda hay không.

Tăng kali máu

Drospirenone là một chất đối kháng aldosterone có đặc tính giữ kali. Trên phần lớn trường hợp theo dõi dự đoán không gây tác động tăng kali máu. Tuy nhiên, nên kiểm tra nồng độ kali huyết trong chu kỳ điều trị đầu tiên được khuyến cáo ở những bệnh nhân suy thận và có nồng độ kali huyết ban đầu nằm trong giới hạn trên của khoảng bình thường và khi dùng đồng thời với các thuốc giữ kali (xem mục TƯƠNG TÁC, TƯƠNG KỴ CỦA THUỐC).

Rối loạn thuyên tắc huyết khối

Các nghiên cứu dịch tễ học liên quan rất ít đến mối tương quan giữa các chế phẩm chỉ có progestin và tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim, thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch; đột quỵ và xuất huyết não.

Trước tránh thai kết hợp có chứa ethinylestradiol làm tăng nguy cơ liên quan đối với các tai biến do thuyên tắc huyết khối. Kinh nghiệm về tính an toàn của những thuốc có chứa progestin như drospirenone có chứa ethinylestradiol. Cho thấy nguy cơ này có tăng lên một chút khi dùng drospirenone thay vì những drospirenone có chứa desogestrel. Tuy nhiên, nếu nguy cơ này có xảy ra, bệnh nhân phải dừng dùng thuốc chứa drospirenone từ trước và nên ngừng dùng thuốc tránh thai Slinda, cần xem xét việc nguy cơ huyết khối tăng lên trong thai kỳ, hậu sản và ở phụ nữ có tiền sử huyết khối.

Nên ngừng sử dụng Slinda nếu xảy ra có huyết khối động mạch hoặc tĩnh mạch. Như vậy, nếu có thể, cân nhắc ngừng Slinda trong trường hợp bất động kéo dài do phẫu thuật hoặc do bệnh tật.

Chuyển hóa xương

Điều trị Slinda gây ra giảm nồng độ estradiol huyết thanh dẫn đến nồng độ tương đương với giai đoạn đầu nang hiện tại. Chưa chứng minh nồng độ estradiol huyết thanh có thể làm ảnh hưởng đến mật độ xương giảm làm tăng nguy cơ loãng xương. Một mặt để hướng xương là mối quan tâm đặc biệt trong giai đoạn thanh thiếu niên và giai đoạn đầu của tuổi trưởng thành, là các giai đoạn quan trọng của sự tích lũy xương. Chưa được biết sự giảm mật độ xương trong độ tuổi này có làm giảm khối lượng xương cực đại và tăng nguy cơ gãy xương trong những giai đoạn muộn sau này hay không.

Ung thư vú

Phân tích gộp từ các nghiên cứu dịch tễ học (54 nghiên cứu) ngày càng cho thấy nguy cơ tương đối (RR = 1,24) khi chẩn đoán ở những người phụ nữ đang sử dụng thuốc tránh thai đường uống (COCs), chủ yếu là các chế phẩm chứa estrogen-progestogen. Nguy cơ đối với sử dụng biện pháp tránh thai chỉ chứa progestogen (POPs) như thuốc tránh thai đường uống phương pháp (POPCOs), ung thư vú hiếm gặp ở phụ nữ dưới 40 tuổi, can số chẩn đoán ung thư ở những người đang và vừa mới dùng COCs thấp hơn so với nguy cơ ung thư vú nói chung. Các nghiên cứu này không cung cấp bằng chứng về mối quan hệ nhân quả. Nguy cơ gia tăng quan sát được có thể là do chẩn đoán ung thư vú sớm hơn ở người sử dụng OC, do tác dụng sinh học của OC hoặc kết hợp cả hai. Ung thư vú được chẩn đoán ở người sử dụng OC có xu hướng lâm sàng kém lâm sàng hơn so với những người chưa từng dùng OC trong các nghiên cứu.

Nguy cơ tăng nhẹ thực tế được chẩn đoán ở những người sử dụng thuốc chỉ có progestogen có thể tương tự như nguy cơ có liên quan đến việc sử dụng thuốc tránh thai hormone kết hợp COC. Tuy nhiên, đối với các chế phẩm chỉ có progestogen, bằng chứng dựa trên các nhóm người dùng nhỏ hơn nhiều và do đó biệt lập và ngày càng chắc chắn; hơn là người sử dụng thuốc chỉ có progestogen tính thuyêt phục hơn so với nhóm COC.

Ung thư cổ tử cung

Một số nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng các biện pháp tránh thai hormone kết hợp có chứa progestin và estradiol có liên quan đến việc tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung, tuy nhiên có một vài biểu hiện cũ kỹ khác. Tuy nhiên, có mối liên kết lấp lửng những ảnh hưởng này có thể là do sự khác biệt trong hành vi tình dục và các yếu tố khác.

Các khối u ở gan

Một số trường hợp hiếm gặp xuất hiện u gan lành tính, thậm chí hiếm gặp hơn u gan ác tính ở những người dùng thuốc tránh thai hormone dạng phối hợp, u gan này có thể dẫn đến xuất huyết trong ổ bụng đe dọa tính mạng. Khả năng gan được xem xét chẩn đoán phân biệt khi đau thượng vị nghiêm trọng, gan to hoặc dấu hiệu xuất huyết trong ổ bụng xảy ra ở người sử dụng COCs.

Cơ thai ngoài tử cung

Việc phòng ngừa có thai ngoài tử cung bằng các loại thuốc tránh thai progestogen truyền thống không tốt bằng thuốc tránh thai kết hợp, do có liên quan đến hiện tượng mọc trứng rụng trứng mọc trứng chỉ có progestogen. Mặc dù thuốc Slinda hoàn toàn ức chế sự rụng trứng như thế, chủ định cần đến chuẩn đoán biệt khi tăng nguy cơ thai ngoài tử cung nếu thấy một số triệu chứng đau bụng.

Chức năng gan

Ngừng thuốc nếu thấy vàng da tiến triển. Hormone steroid có thể được chuyển hóa kém ở bệnh nhân có bị suy giảm chức năng gan, người có chức năng gan cấp hoặc mạn tính như có thể phải ngừng sử dụng Slinda đến khi chức năng gan trở lại bình thường và loại trừ nguyên nhân do Slinda.

Bệnh đái tháo đường

Việc dùng progestogen có thể ảnh hưởng đến sự đề kháng insulin ngoại vi và dung nạp glucose nhưng không có bằng chứng cho thấy cần thay đổi chế độ điều trị ở bệnh nhân đái tháo đường sử dụng thuốc tránh thai chỉ có progestogen (POP) như Slinda. Tuy nhiên, bệnh nhân đái tháo đường được theo dõi cẩn thận trong trong những đầu tiên sử dụng Cần đặc biệt chú ý đến bệnh nhân đái tháo đường có biến chứng mạch máu.

Tình trạng khác

Nếu tăng huyết áp kéo dài trong quá trình sử dụng Slinda hoặc nếu huyết áp tăng đáng kể và không đáp ứng đầy đủ với thuốc hạ huyết áp nên xem xét ngừng sử dụng Slinda.

Tương tự như bất kỳ thuốc tránh thai hormone nào, nám da đôi khi có thể xảy ra, đặc biệt ở những phụ nữ có tiền sử nám da thai nghén. Phụ nữ có xu hướng dễ bị nám nên tránh tiếp xúc với ánh nắng mặt trời hoặc tia cực tím trong khi dùng Slinda.

Tâm trạng trầm cảm và trầm cảm là những tác dụng không mong muốn đã biết khi sử dụng thuốc tránh thai hormone (xem mục TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN CỦA THUỐC). Trầm cảm có thể nghiêm trọng và là yếu tố nguy cơ dẫn đến hành vi tự tử và có ý định tự tử. Phụ nữ nên liên hệ với bác sĩ trong trường hợp tâm trạng thay đổi và có các triệu chứng trầm cảm, xuất hiện ngay sau khi bắt đầu điều trị.

Các tình trạng sau đây đã được báo cáo trong thai kỳ và trong khi sử dụng steroid sinh dục, nhưng mối liên quan với việc sử dụng progestogen chưa được thiết lập: vàng da và/ hoặc ngứa có liên quan đến mật; hình thành sỏi mật; rối loạn chuyển hóa porphyrin; lupus ban đỏ hệ thống; hội chứng tan máu – tăng urê máu; múa giật Sydenham; herpes thai nghén; mất thính lực do xơ cứng tai (xơ cứng tai).

Viên có hoạt tính màu trắng chứa 17,5 mg lactose anhydrous và viên giả dược màu xanh chứa 51,5 mg lactose monohydrate (đường lactose). 27,2 mg lactose. Bệnh nhân có vấn đề di truyền hiếm gặp về không dung nạp galactose, thiếu hụt lactase hoặc kém hấp thu glucose-galactose không nên dùng thuốc này.

Khám / tư vấn y khoa

Trước khi đầu tiên hoặc tái sử dụng Slinda, cần tiền sử y tế đầy đủ (bao gồm cả tiền sử gia đình) và gia đình và phải loại trừ mang thai. Cần đo huyết áp và khám sức khỏe, hướng dẫn bởi các chống chỉ định (xem mục CHỐNG CHỈ ĐỊNH) và cảnh báo (xem mục CẢNH BÁO VÀ THẬN TRỌNG KHI DÙNG THUỐC).

Phụ nữ nên được hướng dẫn rằng thuốc tránh thai đường uống không bảo vệ tránh nhiễm HIV (AIDS) và các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STIs) khác.

Rối loạn kinh nguyệt

Giảm đậm chu kỳ kinh nguyệt có thể xảy ra trong khi sử dụng thuốc tránh thai hormone ức chế rụng trứng, kể cả Slinda (xem mục ĐẶC TÍNH DƯỢC LỰC HỌC).

Nếu chảy máu kinh nguyệt xuất hiện rất thường đầu, nên xem xét biện pháp tránh thai khác. Nếu các triệu chứng vẫn tồn tại, cần loại trừ nguyên nhân thực thể. Việc xử trí tình trạng vô kinh trong thời gian uống thuốc phụ thuộc vào việc thuốc có được uống theo hướng dẫn hay không và có thể bao gồm thử thai.

Nếu nghi ngờ có thai, nên có thai.

Giảm hiệu quả

Hiệu quả của các POP có thể giảm trong các trường hợp quên viên thuốc (xem mục CÁCH DÙNG, LIỀU DÙNG) hoặc dùng thuốc khác đồng thời (xem mục TƯƠNG TÁC, TƯƠNG KỴ CỦA THUỐC).

Các xét nghiệm

Sử dụng steroid tránh thai có thể ảnh hưởng đến kết quả của một số xét nghiệm, bao gồm các thông số sinh hóa của gan, tuyến giáp, chức năng tuyến thượng thận và thận, nồng độ huyết thanh của các protein (chất mang) như huyết thanh, globulin gắn corticoid và lipid/lipoprotein các thông số về chuyển hóa carbohydrate và các thông số về đông máu và tiêu sợi huyết.

- Thai kỳ và cho con bú

Phụ nữ mang thai

Không nên dùng Slinda cho phụ nữ mang thai. Nếu xảy ra mang thai trong khi dùng Slinda, nên dừng thuốc ngay lập tức.

Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy không có sự gia tăng nguy cơ dị tật bẩm sinh ở trẻ em sinh ra từ những phụ nữ sử dụng drospirenone trước khi mang thai, cũng không gây ra quá thai khi vô tình uống drospirenone trong thai kỳ.

Các nghiên cứu trên động vật đã cho thấy độc tính sinh sản (xem mục DỮ LIỆU AN TOÀN TIỀN LÂM SÀNG). Dựa trên những dữ liệu trên động vật này, tác động không mong muốn do tác động nội tiết của hoạt chất không thể loại trừ.

Phụ nữ cho con bú

Drospirenone được bài tiết đồng lượng nhỏ qua sữa mẹ. Do đó lượng drospirenone trẻ truyền cho con mỗi ngày là dưới 1% liều thuốc được dùng. Đã có dữ liệu cho thấy Slinda được dự kiến không ảnh hưởng đối với trẻ sơ sinh/ trẻ bú mẹ. Dựa trên các dữ liệu có sẵn, Slinda có thể được sử dụng trong thời kỳ cho con bú.

Khả năng sinh sản

Slinda được chỉ định để tránh thai.

- Khả năng lái xe và vận hành máy móc

Không có nghiên cứu nào về ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe và vận hành máy móc được tiến hành với SLINDA.

Chưa có bằng chứng về ảnh hưởng của thuốc tránh thai hormone lên khả năng lái xe và vận hành máy móc.

- Tương tác thuốc

Tương tác thuốc

Ảnh hưởng của các thuốc khác lên SLINDA

Tương tác có thể xảy ra giữa Slinda và các thuốc cảm ứng enzyme microsomal có dẫn đến tăng độ thanh thải của các hormone sinh dục và có thể gây ra quyết liệt hoặc xuất hiện mất tác dụng tránh thai, giảm hiệu quả.

Sự cảm ứng enzyme có thể quan sát được sau vài ngày điều trị. Cảm ứng enzyme tối đa thường thấy trong vòng vài tuần. Sau khi ngừng điều trị, cảm ứng enzyme có thể duy trì trong khoảng 4 tuần.

  • Điều trị ngắn hạn:
    Phụ nữ đang điều trị bằng các thuốc cảm ứng enzyme nên sử dụng phương pháp tránh thai màng mỏng chắn hoặc phương pháp màng mỏng chắn kết hợp với POP. Phương pháp màng mỏng chắn phải được dùng trong toàn bộ thời gian dùng thuốc tránh thai đồng thời và trong 28 ngày sau khi ngừng thuốc. Nếu việc điều trị bằng thuốc cảm ứng kéo dài hơn ngày dùng hết các viên thuốc hoạt tính trong vỉ POP, nên bỏ các viên giả dược và bắt đầu vỉ POP mới tiếp theo.
  • Điều trị dài hạn:
    Ở những phụ nữ điều trị lâu dài bằng các chất cảm ứng enzyme, nên sử dụng một biện pháp tránh thai khác đáng tin cậy và không có hormone.
    Các tương tác sau đây đã được báo cáo trong y văn (chủ yếu xảy ra khi dùng thuốc tránh thai kết hợp nhưng thỉnh thoảng cũng xảy ra ở thuốc chỉ có progestogen).

Các chất làm tăng độ thanh thải của các thuốc tránh thai hormone (làm giảm hiệu quả tránh thai do cảm ứng enzyme), ví dụ: Barbiturates, bosentan, carbamazepine, phenytoin, primidone, rifampicin, và thuốc điều trị HIV ritonavir, nevirapine và efavirenz và có thể cả felbamate, griseofulvin, oxcarbazepine, topiramate và sản phẩm chứa thảo dược St. John's Wort (Hypericum perforatum).

Một số thuốc có ảnh hưởng khác nhau trên sự thanh thải của thuốc tránh thai hormone:

Khi dùng đồng thời với hormone sinh dục, nhiều kết hợp của thuốc ức chế protease HIV (như ritonavir, nelfinavir) và ức chế sao chép ngược không nucleoside (nevirapine, efavirenz) hoặc/ hoặc kết hợp với thuốc ức chế virus viêm gan C (HCV) (boceprevir, telaprevir), có thể gây tăng hoặc giảm nồng độ huyết tương của progestins. Ảnh hưởng ròng của những thay đổi này có thể có ý nghĩa lâm sàng trong một số trường hợp. Do đó, nên tham khảo thông tin kê toa của thuốc ức chế HIV/HCV để có thể xác định khả năng tương tác và bất kỳ khuyến cáo nào có liên quan. Trong trường hợp có bất kỳ nghi ngờ nào, nên thêm biện pháp tránh thai màng chắn khi điều trị bằng thuốc ức chế protease hoặc ức chế sao chép ngược không nucleoside.

Các chất làm giảm thanh thải thuốc tránh thai hormone (ức chế enzyme):

Liên quan giữa khả năng tương tác của COC với thuốc ức chế enzyme trên lâm sàng là chưa rõ ràng.

Dùng đồng thời và các chất ức chế mạnh hoặc trung bình CYP3A4 như thuốc kháng nấm nhóm azole (ví dụ: fluconazole, itraconazole, ketoconazole, voriconazole), verapamil, macrolides (ví dụ: clarithromycin, erythromycin), diltiazem và nước ép bưởi chùm (grapefruit) có thể làm tăng nồng độ huyết tương của progestogen.

Trong một nghiên cứu đa liều, đánh giá việc kết hợp thuốc ức chế mạnh CYP3A4 hằng ngày trong 10 ngày): ketoconazole và 2 thuốc tính, thai hormone kết hợp chứa drospirenone (drospirenone 3 mg + estradiol 1,5mg và drospirenone 3mg + ethinylestradiol 0,02 mg) làm tăng AUC(0-24 giờ) của drospirenone lên tương ứng 2,3 và 2,7 lần.

Ảnh hưởng của SLINDA đối với các thuốc khác

Thuốc tránh thai hormone có thể ảnh hưởng đến chuyển hóa của một số thuốc khác. Nồng độ thuốc trong huyết tương và mô có thể tăng lên (ví dụ: cyclosporine) hoặc giảm (ví dụ: lamotrigine).

Dựa trên các nghiên cứu ức chế tương tác in vitro ở tinh nguyên sử dụng omeprazole, simvastatin và midazolam làm chất nền đánh giá, tương tác của drospirenone với các thuốc khác chuyển hóa qua trung gian cytochrome P450 trên lâm sàng là khó xảy ra.

Tương tác dược lực học

Dữ liệu đã công bố không cho thấy tác dụng tăng đáng kể đối với kali huyết thanh sau khi sử dụng đồng thời drospirenone và thuốc ức chế men chuyển hoặc NSAID ở bệnh nhân không bị suy thận. Việc sử dụng đồng thời Slinda với các chất đối kháng aldosterone hoặc thuốc lợi tiểu tiết kiệm kali chưa được nghiên cứu. Trong trường hợp này, nên kiểm tra kali huyết thanh trong chu kỳ điều trị đầu tiên (xem mục CẢNH BÁO VÀ THẬN TRỌNG KHI DÙNG THUỐC).

Tương kỵ

Do không có các nghiên cứu về tính tương kỵ của thuốc, không dùng lẫn thuốc này với các thuốc khác.

7. Dược lý

- Dược lực học (Tác động của thuốc lên cơ thể)

Nhóm dược lý: Thuốc tránh thai hormone dạng progestogen.

Mã ATC: G03AC10

Cơ chế tác dụng

Slinda là thuốc chỉ chứa progestogen drospirenone, có nguồn gốc từ spironolactone.

Trong một liều dùng, drospirenone cũng có các đặc tính kháng androgen và sarm-nhưng không có glucocorticoid. Drospirenone có hoạt tính kháng glucocorticoid và không glucocorticoid, giúp drospirenone có tác dụng tương tự gần giống với hormone progesterone tự nhiên.

Các chỉ định từ các nghiên cứu lâm sàng cho thấy với thuốc tránh thai hormone kết hợp có chứa 3 mg drospirenone và 0,02 mg ethinylestradiol có tác dụng chống nhịp tim và corticoid nhẹ.

Ảnh hưởng dược lực

Hiệu quả tránh thai của Slinda đạt được chủ yếu bằng cách ức chế rụng trứng. Drospirenone có hoạt tính kháng gonadotropic mạnh: ức chế kích thích nang trứng và rụng trứng bằng cách ức chế hormone luteinizing (LH). Ngoài ra, drospirenone có tác dụng đối kháng tử cung, làm tăng dịch tiết nhầy cổ tử cung, drospirenone cũng có tác dụng chống estrogen trên nội mạc tử cung, làm nội mạc tử cung trở nên mỏng hơn.

Hiệu quả và an toàn trên lâm sàng

Khả năng ức chế rụng trứng của Slinda (drospirenone 4 mg không có estrogen) dùng hàng ngày trong 24 ngày, được phục hồi một tuần [không rõ] của chu kỳ trứng rụng trứng (tăng trưởng nang trứng sau khi nghỉ) so với progesterone huyết thanh (giảm số hụt) với sử dụng Desogestrel 0,75mg uống ngày trong 28 ngày qua 2 chu kỳ được đánh giá trong 1 nghiên cứu cho thấy giảm hiện tượng rụng trứng ở phụ nữ khỏe mạnh. Trong chu kỳ thứ nhất không có trường hợp rụng trứng nào được quan sát thấy của nhóm thuốc, trong khi 1 rụng trứng như trước được quan sát ở nhóm Slinda với trường hợp thụ thai desogestrel 0,075 mg trong chu kỳ thứ 2.

Trong 1 nghiên cứu pha II được tiến hành trên 1.011 phụ nữ, Slinda duy trì hiệu quả tránh thai của 4,96 đối với thuốc tránh thai 24 giờ có định vị như các ngày 3, 4, 11 và 22.

Trong 2 thử nghiệm lâm sàng đa trung tâm pha III của châu Âu, một nghiên cứu dài hạn 1 vĩ một nghiên cứu và các chỉ số sinh sản với drospirenone 0,173 mg/194 phụ nữ đã được điều trị từ 9 đến 13 chu kỳ liên tiếp và SLINDA và 241 phụ nữ điều trị với desogestrel trong 9 tháng. Phân tích tổng hợp thử nghiệm này, các chỉ số Pearl được tính toán cho nhóm Slinda như sau:

  • Chỉ số Pearl (18-35 tuổi), thất bại do người dùng + phương pháp: 0,73 (giới hạn tin cậy không tử vong 95% 1,43)
  • Chỉ số Pearl (18-45 tuổi), thất bại do người dùng + phương pháp: 0,56 (giới hạn tin cậy không tử vong 95% 1,04)

Trong một thử nghiệm lâm sàng phối hợp đa trung tâm lớn được thực hiện tại 39 trung tâm ở Hoa Kỳ có một nhóm quả bao gồm 715 từ 18 – 35 tuổi với 5.547 chu kỳ xuất hiện giá được. Trong các chu kỳ này, có 17 [không rõ] trường hợp mang thai đã được báo cáo tương ứng tác dụng tránh thai của thuốc và số liệu nghiệm dược và huyết thanh từ diễn biến nguy cơ dẫn đến Chỉ số Pearl (95% CI là 4,0 (2,3; 6,4).

Kinh nguyệt

Sự nguyệt trong khi sử dụng Slinda được đánh giá trong một thử nghiệm như dài trong 9 tháng so sánh với desogestrel 0,075 mg, được thống kê trên:

Ra huyết do tạm nghỉ thuốc – withdrawal bleeding (được định nghĩa là chảy máu bắt đầu trong 4 ngày không dùng thuốc Slinda kéo dài đến ngày thứ ngày xuất hiện xuất hiện huyết – xảy ra ở 40% - trung bình các chu kỳ đầu tiên và giảm theo thời gian. Sau 9 tháng sử dụng, ra huyết do tạm nghỉ thuốc được ghi nhận ở dưới 20% người dùng.

Số ngày ra huyết / rỉ máu, nói chung trung bình trong nhóm dùng SLINDA có rất nhiều desogestrel trong các chu kỳ 2 - 4 (trung bình 13,1 và 12,0 so với 16,9 và 14,9. Số ngày ra huyết / rỉ máu giảm trong các chu kỳ sau (với trung bình 9,7 ngày trong chu kỳ thứ 7-9).

Trong cùng một nghiên cứu, tỷ lệ các đối tượng không có huyết (vô kinh) trong một chu kỳ là từ 15-20% cho Slinda và 13,5% cho desogestrel. Tỷ lệ các đối tượng vô kinh tăng lên qua các chu kỳ thứ 7 đến chu kỳ thứ 9 cho Slinda đạt đến 32,1% so với 11% cho desogestrel.

Số lượng đối tượng có ra huyết kéo dài (> 10 ngày liên tiếp) khi uống Slinda so với desogestrel, thì tỷ lệ là 18,1% và 26,1% trong các chu kỳ 2-4 và 9,1% so với 15,3% trong chu kỳ 7-9.

Tỷ lệ các đối tượng rút khỏi nghiên cứu do các tác dụng phụ liên quan đến ra máu là 3,3% trong nhóm Slinda và 6,6% trong nhóm desogestrel.

Trẻ em

Một nghiên cứu của giai đoạn III được thực hiện ở châu Âu để đánh giá khả năng dung nạp, an toàn và các chức năng chấp nhận Slinda gồm 103 thanh thiếu niên trong 6 chu kỳ chính và 7 chu kỳ bổ sung cho thấy nó riêng năng năng tổng thể và chu kỳ điều trị được dung nạp và chấp nhận tốt.

Kinh nguyệt khi dùng SLINDA được đánh giá ghi và dữ liệu nói chung phù hợp những nghiên cứu sau này ở người lớn. SLINDA thể hiện giảm dần việc giảm tỷ lệ ra huyết từ ra huyết do tạm nghỉ giảm theo thời gian.

- Dược động học (Tác động của cơ thể với thuốc)

Hấp thu

Liều đường uống thuốc được hấp thu nhanh và gần như hoàn toàn. Nồng độ đỉnh trong huyết thanh của Slinda là khoảng 27 ng/ml đạt được sau 2-6 giờ uống một liều đơn. Thức ăn đồng thời được ăn không ảnh hưởng đến khả năng dùng của Drospirenone.

Dược động học của liều đơn và liều dùng lặp lại có số liệu từ các nghiên cứu so sánh có cảnh vệ. Việc drospirenone có tác động liên tục đối kết hợp với ethinylestradiol. Sau khi dùng liều duy nhất hằng ngày, trạng thái tương đương của drospirenone là Cmax và AUC(0-24 giờ) tích lũy được điều trị hằng tuần Raccumulation là 1,1235, trong khi Cg thu được kết quả là 2,1684. Những phát hiện này cho thấy tích lũy phần trăm toàn phần với drospirenone là liều thấp hơn so với thuốc kết hợp trong chu kỳ 28 ngày.

Phân bố

Drospirenone liên kết với albumin huyết thanh 95-97% và không liên kết với globulin gắn hormone sinh dục (SHBG) và globulin gắn corticosteroid (CBG). Thể tích phân bố biểu kiến trung bình của drospirenone là khoảng 4 l/kg.

Sinh chuyển hóa

Drospirenone được chuyển hóa rộng rãi sau khi uống. Hai chất chuyển hóa chính có hoạt tính trong huyết tương là dạng acid của drospirenone được tạo ra bằng cách mở vòng lactone và 4,5 – dihydro-drospirenone-3-sulfate, cả hai được tạo ra mà không có sự tham gia của hệ thống CYP450. Drospirenone cũng bị oxy hóa bởi tác nhân của CYP3A4.

In vitro, drospirenone có khả năng ức chế từ yếu đến vừa phải các cytochrome P450 enzyme CYP1A1, CYP2C9, CYP2C19 và CYP3A4.

Thải trừ

Sau khi uống, nồng độ drospirenone trong huyết tương giảm dần. Thời gian bán thải là 72 giờ.

Tốc độ thanh thải chuyển hóa của drospirenone trong huyết thanh là (1,5 ml/phút/kg). Drospirenone chỉ được bài tiết dưới dạng vết ở dạng không đổi. Các chất chuyển hóa của drospirenone được thải trừ qua phân và nước tiểu theo tỷ lệ bài tiết khoảng 1,2 đến 1,4.

Tuyến tính / không tuyến tính

Dược động học của drospirenone đường uống phụ thuộc liều sau khi liều đơn từ 1-10mg.

Trạng thái ổn định

Trong chu kỳ điều trị, nồng độ ổn định của drospirenone trong huyết thanh khoảng 40 ng/ml đạt được sau 1 ngày uống thuốc. Nồng độ Drospirenone huyết thanh tăng theo hệ số 2, đây là tỉ lệ giữa các gian nộp liều của chất mang mang thuốc.

Các trường hợp đặc biệt

  • Ảnh hưởng của suy thận:
    Chưa có nghiên cứu nào được tiến hành để đánh giá ảnh hưởng của suy thận dược động học của Slinda. Tuy nhiên, nồng độ drospirenone huyết thanh ở trạng thái ổn định ở phụ nữ dùng thuốc tránh thai kết hợp chứa drospirenone có suy thận nhẹ (độ thanh thải creatinine CLcr là 50-80 ml/phút) có thể so sánh được với những CLcr có chức năng thận bình thường. Cả hai có CLcr trung bình (CLcr = 30-50 ml/phút) nồng độ trong huyết thanh cao hơn trung bình 37% so với phụ nữ có chức năng thận bình thường. Điều trị bằng Drospirenone được dung nạp tốt ở tất cả các chất trung gian suy thận sử dụng thuốc tránh thai. Drospirenone không cho thấy bất kỳ ảnh hưởng đáng kể lâm sàng nào trên nồng độ kali huyết thanh.
  • Ảnh hưởng của suy gan:
    Chưa có nghiên cứu nào được tiến hành để đánh giá hiệu quả của gan trên dược động học của sữa của thuốc, hormon steroid được thải trừ chậm ở chu kỳ chu kỳ chức năng gan.
    Trong một nghiên cứu liều đơn ở phụ nữ uống thuốc tránh thai kết hợp chứa drospirenone, độ thanh thải đường uống (CL/F) giảm khoảng 50% ở những tình nguyện viên giảm vì giảm so với các có chức năng gan bình thường. Sự giảm độ thanh thải này không thay đổi nồng độ kali huyết thanh, chứng minh của các thuốc đường trong điều trị đồng thời và có liên quan đến độ phì đại gan của thuốc (như không thấy có tăng nồng độ kali trong giới hạn trên của mức bình thường). Có thể kết luận Drospirenone dùng rất tốt ở bệnh nhân suy gan nhẹ hoặc trung bình (Child-Pugh B).
  • Các nhóm chủng tộc:
    Không thấy có khác biệt trên lâm sàng có liên quan đến dược động học của drospirenone giữa phụ nữ thuộc châu và người da trắng.

DỮ LIỆU AN TOÀN TIỀN LÂM SÀNG:

Ở động vật thử nghiệm, tác dụng của drospirenone chỉ giới hạn ở các ảnh hưởng tác dụng liên quan đến tác dụng dược lý được công nhận. Đặc biệt, các nghiên cứu về độc tính sinh sản trên máy móc trên động vật đã phơi bày và đặc tính cho thấy dược lực có loại tác dụng chống androgen và tác dụng kháng mineralocorticoid. Đối tượng sử dụng drospirenone, thử nghiệm dược và dược học lâm sàng đã được quan sát thấy ở độc thai chuột nhưng không có quan sát thấy ở HL. Thử nghiệm đánh giá dài hạn và môi trường đối chứng drospirenone không có chất gây nguy hiểm cho người nào việc dùng lâm sàng đã được quan sát rõ ràng ở mức nồng độ 0,082 mg/L (LOEC).

8. Thông tin thêm

- Đặc điểm

Viên nén bao phim.

  • Viên màu trắng có hoạt tính: Viên nén hình tròn, màu trắng, có khắc chữ D trên một mặt và số 4 trên mặt còn lại.
  • Viên màu xanh lá có giá dược: Viên nén hình tròn, màu xanh lá, có khắc chữ E trên một mặt và số 4 trên mặt còn lại.

- Bảo quản

Bảo quản dưới 30°C.

- Quy cách đóng gói

Hộp 1 vỉ x 28 viên nén bao phim (24 viên trắng hoạt tính + 4 viên giả dược).

- Hạn dùng

36 tháng kể từ ngày sản xuất.

- Nhà sản xuất

LABORATORIOS LEÓN FARMA, S.A.

Tờ hướng dẫn sử dụng

Tờ hướng dẫn sử dụng undefined
Tờ hướng dẫn sử dụng undefined