Mã: 109433
Khuyến mãi
Các ưu đãi khác
Hóa đơn từ 200,000đ tặng voucher trị giá 30,000đ mua sản phẩm OSTELIN 130V
Hóa đơn từ 200,000đ tặng voucher trị giá 50,000đ mua sản phẩm ENTEROGERMINA BABY COMFORT
| Mọi thông tin dưới đây đã được Dược sĩ biên soạn lại. Tuy nhiên, nội dung hoàn toàn giữ nguyên dựa trên tờ Hướng dẫn sử dụng, chỉ thay đổi về mặt hình thức. |
TREMFYA 100 mg dung dịch tiêm đóng sẵn trong bơm tiêm
Mỗi bơm tiêm đóng sẵn chứa 100 mg guselkumab trong 1 mL dung dịch.
Guselkumab là một kháng thể đơn dòng (mAb) globulin miễn dịch G1 lamda (IgG1λ) người, được sản xuất trên tế bào buồng trứng chuột Hamster (CHO) Trung Quốc bằng công nghệ tái tổ hợp DNA.
Thành phần tá dược: Sucrose, Histidine, L-Histidine monohydrochloride monohydrate, Polysorbate 80, Nước pha tiêm.
Vảy nến thể mảng
TREMFYA được chỉ định điều trị bệnh vảy nến thể mảng trung bình đến nặng ở bệnh nhân người lớn có chỉ định điều trị toàn thân.
Viêm khớp vảy nến
TREMFYA đơn trị liệu hoặc phối hợp với methotrexate (MTX) được chỉ định để điều trị viêm khớp vảy nến thể hoạt động ở bệnh nhân người lớn đáp ứng không đầy đủ hoặc không dung nạp với một trị liệu dùng thuốc chống thấp khớp tác dụng chậm (DMARD) trước đó.
Thuốc này được sử dụng dưới sự hướng dẫn và giám sát của bác sĩ có kinh nghiệm trong chẩn đoán và điều trị các bệnh thuộc chỉ định của thuốc.
Vảy nến thể mảng
Liều khuyến cáo là 100 mg tiêm dưới da vào tuần 0 và 4, tiếp nối bởi một liều duy trì mỗi 8 tuần (q8w).
Nên cân nhắc ngừng điều trị ở những bệnh nhân không đáp ứng sau 16 tuần điều trị.
Viêm khớp vảy nến
Liều khuyến cáo là 100 mg tiêm dưới da vào tuần 0 và 4, tiếp nối bởi một liều duy trì mỗi 8 tuần. Đối với bệnh nhân nguy cơ cao bị tổn thương khớp dựa trên đánh giá lâm sàng, có thể cân nhắc liều 100 mg mỗi 4 tuần (q4w).
Nên cân nhắc ngừng điều trị ở những bệnh nhân không đáp ứng sau 24 tuần điều trị.
Đối tượng đặc biệt
Người cao tuổi (≥ 65 tuổi)
Không cần chỉnh liều.
Thông tin trên bệnh nhân ≥ 65 tuổi còn hạn chế và trên bệnh nhân ≥ 75 tuổi còn rất hạn chế.
Suy gan hoặc suy thận
TREMFYA chưa được nghiên cứu trên nhóm đối tượng này. Chưa có khuyến cáo về liều điều trị.
Đối tượng bệnh nhân nhi
Tính an toàn và hiệu quả của TREMFYA trên trẻ em và thanh thiếu niên dưới 18 tuổi chưa được xác định. Chưa có dữ liệu liên quan.
Tiêm dưới da. Nếu có thể, nên tránh tiêm tại vùng da có biểu hiện vảy nến.
Sau khi được hướng dẫn đầy đủ về kỹ thuật tiêm dưới da, bệnh nhân có thể tự tiêm TREMFYA nếu được bác sĩ xác định rằng điều này là phù hợp. Tuy nhiên, bác sĩ cần đảm bảo bệnh nhân được theo dõi phù hợp về mặt y khoa. Bệnh nhân nên được hướng dẫn để tiêm toàn bộ lượng dung dịch theo “Hướng dẫn sử dụng” được cung cấp trong hộp thuốc.
Quan trọng
Nếu bác sĩ quyết định bạn hoặc người chăm sóc có thể tiêm TREMFYA tại nhà thì bạn nên được huấn luyện cách để chuẩn bị và tiêm TREMFYA sử dụng bơm tiêm đóng sẵn thuốc trước khi bạn thực hiện tiêm.
Vui lòng đọc Hướng dẫn sử dụng trước khi dùng TREMFYA dạng bơm tiêm đóng sẵn và trước mỗi lần tiêm sau đó. Có thể có thông tin mới. Hướng dẫn này không thay thế cho việc trao đổi với bác sĩ về tình trạng y khoa hoặc cách điều trị của bạn. Vui lòng đọc kỹ Hướng dẫn trước khi bắt đầu tiêm và trao đổi với bác sĩ hoặc y tá nếu bạn có bất kỳ câu hỏi nào.
TREMFYA dạng bơm tiêm đóng sẵn được dùng để tiêm dưới da, không tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch. Sau khi tiêm, kim sẽ rút vào thân của thiết bị và bị khóa.
Không được lắc bơm tiêm đóng sẵn.
Mô tả Bơm tiêm đóng sẵn
Ống bơm trước khi tiêm

Ống bơm sau khi tiêm

Quy trình thực hiện
1. Chuẩn bị trước khi tiêm
- Kiểm tra hộp thuốc
Lấy hộp thuốc chứa bơm tiêm đóng sẵn ra khỏi tủ lạnh.
Để bơm tiêm đóng sẵn trong hộp thuốc và đặt trên mặt phẳng tại nhiệt độ phòng tối thiểu 30 phút trước khi sử dụng.
Không làm ấm bằng bất kỳ cách nào.
Kiểm tra ngày hết hạn (‘HD [EXP]’) trên vỏ hộp thuốc.
Không sử dụng nếu quá ngày hết hạn.
Không tiêm nếu đường đục lỗ trên hộp thuốc bị mở.
Gọi cho bác sĩ hoặc dược sĩ để có hộp thuốc thay thế.
- Chọn vị trí tiêm
Bạn nên chọn những vị trí sau để tiêm:
Mặt trước đùi (được khuyến cáo).
Bụng dưới.
Không được tiêm vào vùng 5 cm xung quanh rốn.
Mặt ngoài cánh tay trên (nếu do người chăm sóc tiêm giúp bạn).
Không tiêm vào vùng da bị đau, bầm tím, đỏ, có vảy hoặc căng cứng.
Không tiêm vào vùng bị sẹo hoặc bị kéo căng.

- Làm sạch chỗ tiêm
Rửa sach tay với xà phòng và nước ấm.
Lau vùng được chọn tiêm bằng gạc tẩm cồn và để khô.
- Kiểm tra dung dịch
Lấy bơm tiêm đóng sẵn ra khỏi hộp.
Kiểm tra dung dịch qua cửa sổ. Dung dịch trong đến vàng nhạt và có thể chứa các phần tử nhỏ xíu màu trắng hoặc trong. Bạn có thể thấy một hoặc vài bọt khí, điều đó là bình thường.
Không tiêm dung dịch nếu vẩn đục hoặc đổi màu, hoặc có các phần tử lớn. Nếu không chắc chắn, bạn nên gọi cho bác sĩ hoặc dược sĩ để có thuốc thay thế.

2. Thực hiện tiêm
B1. Tháo nắp kim tiêm
Giữ thân bơm tiêm và kéo thẳng để tháo nắp kim tiêm.
Bình thường bạn sẽ thấy một giọt dung dịch.
Tiêm trong vòng 5 phút từ khi tháo nắp kim tiêm.
Không lắp lại nắp kim tiêm vì có thể làm hỏng kim tiêm.
Không chạm vào kim tiêm hoặc không để kim tiêm chạm vào bất kỳ bề mặt nào.
Không dùng TREMFYA dạng bơm tiêm đóng sẵn nếu bị rơi. Gọi cho bác sĩ hoặc dược sĩ để có thuốc thay thế.

B2. Cố định ngón tay và đâm kim
Đặt ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa ngay dưới gờ đặt ngón tay trên thân bơm tiêm, như hình vẽ.
Không chạm vào pit-tông hoặc phía trên gờ đặt ngón tay do có thể gây kích hoạt dụng cụ an toàn của kim.
Sử dụng tay kia để véo da tại chỗ tiêm. Đặt bơm tiêm nghiêng một góc 45 độ so với mặt da.

B3. Bỏ véo da và thay đổi vị trí tay
Sử dụng tay còn lại để cầm vào thân bơm tiêm.

B4. Ấn pit-tông
Đặt ngón cái của tay đối diện lên pit-tông và ấn pit-tông đi xuống cho đến khi nó ngừng lại.

B5. Ngừng ấn pit-tông
Phần bảo vệ sẽ bao phủ kim tiêm và khóa nó bên trong, rút kim tiêm khỏi da.

3. Sau khi tiêm
Vứt bỏ bơm tiêm đã sử dụng
Bỏ bơm tiêm đã sử dụng vào bình chứa vật sắc nhọn sau khi sử dụng.
Đảm bảo thải bỏ thùng rác như hướng dẫn của bác sĩ hoặc y tá khi thùng rác đầy.
Kiểm tra chỗ tiêm
Có thể có lượng nhỏ máu hoặc dung dịch tại chỗ tiêm. Dùng bông hoặc gạc ấn lên da cho đến khi ngừng chảy máu.
Không xoa chỗ tiêm.
Nếu cần, dán băng dính lên chỗ tiêm để che chỗ tiêm.
Bạn đã hoàn tất việc tiêm thuốc.
Đã sử dụng tiêm tĩnh mạch một liều duy nhất guselkumab lên đến 987 mg (10 mg/kg) cho những người tình nguyện khỏe mạnh và tiêm dưới da liều duy nhất guselkumab lên đến 300 mg cho những bệnh nhân vảy nến thể mảng trong các nghiên cứu lâm sàng mà không thấy độc tính giới hạn liều (dose-limiting toxicity). Trong biến cố quá liều, phải theo dõi bệnh nhân về bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng của phản ứng bất lợi và phải thực hiện ngay điều trị triệu chứng thích hợp.
Quá mẫn nghiêm trọng với hoạt chất hoặc với bất kỳ tá dược nào.
Các nhiễm trùng thể hoạt động quan trọng về lâm sàng.
Tóm tắt dữ liệu an toàn
Phản ứng bất lợi thường gặp nhất là các nhiễm trùng đường hô hấp với xấp xỉ 14% bệnh nhân trong các nghiên cứu lâm sàng về bệnh vảy nến và viêm khớp vảy nến.
Bảng liệt kê phản ứng bất lợi
Bảng 1 cung cấp danh sách các phản ứng bất lợi từ các nghiên cứu lâm sàng cho bệnh vảy nến và bệnh vảy nến thể mảng cũng như từ kinh nghiệm hậu mãi. Các phản ứng bất lợi này được phân loại theo Hệ cơ quan của MedDRA và tần suất, sử dụng quy ước sau: rất thường gặp (≥ 1/10), thường gặp (≥ 1/100 đến < 1/10), ít gặp (≥ 1/1.000 đến < 1/100), hiếm gặp (≥ 1/10.000 đến < 1/1.000), rất hiếm gặp (< 1/10.000), chưa rõ (không thể ước lượng từ dữ liệu hiện có).
Bảng 1: Danh sách các phản ứng bất lợi
Hệ cơ quan | Tần suất | Phản ứng bất lợi |
| Nhiễm trùng và nhiễm ký sinh trùng | Rất thường gặp | Nhiễm trùng đường hô hấp |
Ít gặp | Nhiễm herpes simplex | |
Ít gặp | Nhiễm nấm trên da | |
Ít gặp | Viêm đường tiêu hóa | |
| Rối loạn hệ miễn dịch | Ít gặp | Quá mẫn |
Ít gặp | Sốc phản vệ | |
Rối loạn hệ thần kinh | Thường gặp | Đau đầu |
Rối loạn hệ tiêu hóa | Thường gặp | Tiêu chảy |
| Rối loạn da và mô dưới da | Ít gặp | Mày đay |
Ít gặp | Phát ban | |
Rối loạn cơ xương khớp và mô liên kết | Thường gặp | Đau khớp |
Rối loạn toàn thân và tại chỗ tiêm | Thường gặp | Phản ứng tại chỗ tiêm |
| Xét nghiệm | Thường gặp | Transaminase tăng |
Ít gặp | Giảm số lượng bạch cầu trung tính |
Mô tả phản ứng bất lợi chọn lọc
Transaminases tăng
Trong hai nghiên cứu lâm sàng Pha III cho bệnh viêm khớp vảy nến, trong suốt giai đoạn đối chứng với giả dược, đã ghi nhận báo cáo biến cố bất lợi tăng transaminases (bao gồm tăng ALT, tăng AST, tăng enzyme gan, bất thường xét nghiệm chức năng gan, transaminases trong máu cao) ở nhóm điều trị bằng guselkumab (8,6 % ở nhóm dùng chế độ liều mỗi 4 tuần và 8,3% ở nhóm dùng chế độ liều mỗi 8 tuần) với tần suất nhiều hơn so với nhóm dùng giả dược (4,6%). Trong 1 năm, đã ghi nhận báo cáo biến cố bất lợi tăng transaminases (như kể trên) ở 12,9% bệnh nhân thuộc nhóm dùng liều mỗi 4 tuần và 11,7% bệnh nhân thuộc nhóm dùng liều mỗi 8 tuần.
Dựa trên đánh giá các xét nghiệm, phần lớn trường hợp tăng transaminase (ALT và AST) đều ≤ 3 x giới hạn trên của giá trị bình thường (ULN). Tỷ lệ tăng transaminase > 3 đến ≤ 5 x ULN và > 5 x ULN thấp, xảy ra thường xuyên hơn ở nhóm điều trị guselkumab với chế độ liều mỗi 4 tuần so với nhóm điều trị guselkumab với chế độ liều mỗi 8 tuần (Bảng 2). Đã quan sát thấy tần suất tương tự khi tính theo mức độ nặng và tính theo nhóm điều trị cho đến cuối nghiên cứu lâm sàng Pha III của bệnh viêm khớp vảy nến kéo dài 2 năm.
Bảng 2: Tần suất bệnh nhân tăng transaminase sau thời điểm ban đầu (post-baseline) trong hai nghiên cứu lâm sàng pha III cho bệnh viêm khớp vảy nến
Bảng 2: Tần suất bệnh nhân tăng transaminase sau thời điểm ban đầu (post-baseline) trong hai nghiên cứu lâm sàng pha III cho bệnh viêm khớp vảy nến | ||||||
Đến tuần 24a | Đến 1 nămb | |||||
Giả dược N=370c | guselkumab 100 mg mỗi 8 tuần N=373c | guselkumab 100 mg mỗi 4 tuần N=371c | guselkumab 100 mg mỗi 8 tuần N=373c | guselkumab 100 mg mỗi 4 tuần N=371c | ||
ALT | ||||||
>1 đến ≤3 x ULN | 30,0% | 28,2% | 35,0% | 33,5% | 41,2% | |
>3 đến ≤ 5 x ULN | 1,4% | 1,1% | 2,7% | 1,6% | 4,6% | |
>5 x ULN | 0,8% | 0,8% | 1,1% | 1,1% | 1,1% | |
AST | ||||||
>1 đến ≤3 x ULN | 20,0% | 18,8% | 21,6% | 22,8% | 27,8% | |
>3 đến ≤ 5 x ULN | 0,5% | 1,6% | 1,6% | 2,9% | 3,8% | |
>5 x ULN | 1,1% | 0,5% | 1,6% | 0,5% | 1,6% | |
agiai đoạn đối chứng với giả dược bkhông bao gồm bệnh nhân được phân nhóm ngẫu nhiên dùng giả dược tại thời điểm ban đầu và chuyển chéo qua dùng guselkumab csố bệnh nhân được ít nhất một lần đánh giá sau thời điểm ban đầu bằng xét nghiệm cụ thể trong giai đoạn đó | ||||||
Trong các nghiên cứu lâm sàng bệnh vảy nến, trong suốt 1 năm, tần suất tăng transaminase (ALT và AST) của guselkumab liều mỗi 8 tuần là tương tự với tần suất quan sát được trong các nghiên cứu lâm sàng bệnh viêm khớp vảy nến dùng liều guselkumab mỗi 8 tuần. Trong suốt 5 năm, tần suất mới mắc tăng transaminase không tăng theo số năm điều trị guselkumab. Phần lớn sự gia tăng transaminase là ≤ 3 x ULN.
Phần lớn các trường hợp, sự gia tăng transaminase là thoáng qua và không dẫn tới việc ngừng điều trị.
Giảm bạch cầu trung tính
Trong 2 nghiên cứu lâm sàng Pha III cho bệnh viêm khớp vảy nến, trong suốt giai đoạn đối chứng với giả dược, đã ghi nhận báo cáo biến cố bất lợi giảm bạch cầu trung tính ở nhóm điều trị bằng guselkumab (0,9%) với tần suất nhiều hơn so với nhóm dùng giả dược (0%). Trong 1 năm, đã ghi nhận báo cáo biến cố bất lợi giảm bạch cầu trung tính ở 0,9% bệnh nhân điều trị bằng guselkumab. Phần lớn trường hợp giảm bạch cầu trong máu là nhẹ, thoáng qua, không liên quan đến nhiễm trùng và không cần phải ngừng điều trị.
Viêm đường tiêu hóa
Trong hai nghiên cứu lâm sàng Pha III cho bệnh vảy nến trong giai đoạn đối chứng giả dược, viêm đường tiêu hóa xuất hiện thường xuyên hơn ở nhóm điều trị guselkumab (1,1%) so với nhóm dùng giả dược (0,7%). Cho đến Tuần 264, có 5,8% bệnh nhân dùng guselkumab đã báo cáo viêm đường tiêu hóa. Phản ứng bất lợi viêm đường tiêu hóa là không nghiêm trọng và đã không dẫn đến ngừng điều trị guselkumab cho đến Tuần 264. Tỷ lệ viêm đường tiêu hóa trong các nghiên cứu lâm sàng cho bệnh viêm khớp vảy nến trong suốt giai đoạn đối chứng với giả dược là tương tự như quan sát thấy trong các nghiên cứu lâm sàng cho bệnh vảy nến.
Phản ứng tại chỗ tiêm
Trong hai nghiên cứu lâm sàng Pha III cho bệnh vảy nến kéo dài 48 tuần, 0,7% trong nhóm tiêm guselkumab và 0,3% trong nhóm tiêm giả dược có phản ứng tại chỗ tiêm. Cho đến Tuần 264, có 0,4% bệnh nhân dùng guselkumab đã báo cáo phản ứng tại chỗ tiêm. Những phản ứng tại chỗ tiêm nhìn chung ở mức độ nhẹ đến trung bình; không có trường hợp nghiêm trọng và có một trường hợp dẫn đến ngừng guselkumab.
Trong hai nghiên cứu lâm sàng Pha III cho bệnh viêm khớp vảy nến, số lượng bệnh nhân báo cáo 1 hoặc nhiều phản ứng tại chỗ tiêm là thấp và cao hơn một chút ở nhóm điều trị bằng guselkumab so với nhóm dùng giả dược; 5 (1,3%) bệnh nhân trong nhóm dùng guselkumab mỗi 8 tuần, 4 (1,1%) bệnh nhân trong nhóm dùng guselkumab mỗi 4 tuần và 1 (0,3%) bệnh nhân dùng giả dược. Một bệnh nhân đã ngừng dùng guselkumab do phản ứng tại chỗ tiêm trong giai đoạn đối chứng với giả dược của các nghiên cứu lâm sàng cho bệnh viêm khớp vảy nến. Trong 1 năm, tỷ lệ bệnh nhân báo cáo 1 hoặc nhiều phản ứng tại chỗ tiêm trong nhóm dùng guselkumab mỗi 8 tuần và mỗi 4 tuần tương ứng là 1,6% và 2,4%. Nhìn chung, tỷ lệ dùng thuốc có liên quan đến phản ứng tại chỗ tiêm quan sát thấy ở các thử nghiệm lâm sàng cho bệnh viêm khớp vảy nến trong suốt giai đoạn đối chứng với giả dược là tương tự với tỷ lệ quan sát thấy trong các thử nghiệm lâm sàng cho bệnh vảy nến.
Tính sinh miễn dịch
Tính sinh miễn dịch của guselkumab được đánh giá bằng cách sử dụng xét nghiệm miễn dịch nhạy và dung nạp thuốc.
Trong phân tích gộp Pha II và Pha III ở những bệnh nhân vảy nến và viêm khớp vảy nến, 5% bệnh nhân (n=145) điều trị bằng guselkumab đã xuất hiện kháng thể kháng thuốc trong 52 tuần điều trị. Trong số các bệnh nhân xuất hiện kháng thể kháng thuốc, khoảng 8% (n=12) có kháng thể được phân loại là trung hòa, tương đương với 0,4% của tất cả các bệnh nhân điều trị bằng guselkumab. Trong phân tích gộp Pha III ở những bệnh nhân vảy nến, khoảng 15% bệnh nhân dùng guselkumab xuất hiện kháng thể kháng thuốc trong 264 tuần điều trị. Trong số những bệnh nhân xuất hiện kháng thể kháng thuốc, có xấp xỉ 5% bệnh nhân có kháng thể trung hòa, tương đương với 0,76% trong tổng số bệnh nhân dùng guselkumab. Kháng thể kháng thuốc không liên quan đến hiệu quả thấp hơn hoặc phát triển các phản ứng tại chỗ tiêm.
Báo cáo phản ứng bất lợi nghi ngờ
Việc báo cáo phản ứng bất lợi nghi ngờ sau lưu hành thuốc là quan trọng. Việc báo cáo này cho phép theo dõi liên tục sự cân bằng của lợi ích/nguy cơ của thuốc. Nhân viên y tế được yêu cầu báo cáo phản ứng bất lợi nghi ngờ thông qua hệ thống báo cáo quốc gia.
Thông báo ngay cho bác sỹ hoặc dược sỹ những phản ứng có hại gặp phải khi sử dụng thuốc.
6. Lưu ý |
- Thận trọng khi sử dụngKhả năng truy xuất thuốc Để cải thiện khả năng truy xuất các thuốc sinh phẩm, nên ghi lại rõ tên thuốc và số lô của thuốc đã sử dụng. Nhiễm trùng
Đánh giá lao trước điều trị Trước khi bắt đầu điều trị, bệnh nhân nên được đánh giá về tình trạng nhiễm lao. Nên theo dõi các dấu hiệu và triệu chứng của lao hoạt động trên bệnh nhân dùng guselkumab trong suốt thời gian điều trị và sau điều trị. Nên cân nhắc điều trị kháng lao trước khi bắt đầu điều trị ở những bệnh nhân có tiền sử lao tiềm ẩn hoặc lao thể hoạt động, mà không thể xác định đã được điều trị đầy đủ hay không. Quá mẫn Đã có báo cáo về phản ứng quá mẫn nghiêm trọng xảy ra sau khi lưu hành thuốc, bao gồm cả sốc phản vệ. Một số trường hợp phản ứng quá mẫn nghiêm trọng xảy ra vài ngày sau điều trị bằng guselkumab, bao gồm những trường hợp có mày đay và khó thở. Nếu xuất hiện một phản ứng quá mẫn nghiêm trọng, nên ngừng sử dụng guselkumab ngay và tiến hành điều trị thích hợp. Tăng transaminase gan
Chủng ngừa
- Thai kỳ và cho con búPhụ nữ trong độ tuổi sinh sản Phụ nữ trong độ tuổi sinh sản nên sử dụng biện pháp tránh thai hiệu quả trong thời gian điều trị và ít nhất 12 tuần sau điều trị. Mang thai Chưa có dữ liệu về việc sử dụng guselkumab trên phụ nữ mang thai. Các nghiên cứu trên động vật không cho thấy ảnh hưởng có hại trực tiếp hoặc gián tiếp đến thai kỳ, sự phát triển phôi/bào thai, quá trình sinh đẻ hoặc phát triển sau sinh. Để thận trọng, tốt nhất nên tránh dùng TREMFYA trong thai kỳ. Cho con bú Chưa rõ liệu guselkumab có được bài tiết vào sữa mẹ hay không. IgG của người được biết là được tiết vào sữa mẹ trong vài ngày sau khi sinh, và giảm nhanh đến nồng độ thấp sau đó; vì vậy, không loại trừ được nguy cơ cho trẻ bú mẹ trong giai đoạn này. Việc quyết định ngừng cho con bú trong thời gian điều trị hay ngừng điều trị với liệu pháp TREMFYA cần được cân nhắc giữa lợi ích của việc cho trẻ bú mẹ và lợi ích của điều trị cho người mẹ. Khả năng sinh sản Ảnh hưởng của guselkumab đến khả năng sinh sản chưa được đánh giá. Các nghiên cứu trên động vật không cho thấy ảnh hưởng có hại trực tiếp hoặc gián tiếp đến khả năng sinh sản. - Khả năng lái xe và vận hành máy mócTREMFYA không ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng không đáng kể đến khả năng lái xe và vận hành máy móc. - Tương tác thuốcTương tác với chất nền CYP450 Trong một nghiên cứu Pha I trên những bệnh nhân vảy nến thể mảng trung bình đến nặng, thay đổi nồng độ toàn thân (Cmax và AUCinf) của midazolam, S-warfarin, omeprazole, dextromethorphan, và caffeine sau một liều duy nhất guselkumab đã không ảnh hưởng về mặt lâm sàng, cho thấy chưa chắc xảy ra tương tác giữa guselkumab và các chất nền của nhiều enzyme CYP (CYP3A4, CYP2C9, CYP2C19, CYP2D6, và CYP1A2). Không cần điều chỉnh liều khi dùng guselkumab đồng thời với các chất nền CYP450. Kết hợp với điều trị ức chế miễn dịch hoặc quang trị liệu Trong các nghiên cứu trên bệnh vảy nến, tính an toàn và hiệu quả của guselkumab khi kết hợp với thuốc ức chế miễn dịch, bao gồm cả sinh phẩm hoặc quang trị liệu chưa được đánh giá. Tính tương kỵ Không có các nghiên cứu về tính tương thích; không được trộn thuốc này với các thuốc khác. |
Nhóm dược lý điều trị: Ức chế miễn dịch, ức chế interleukin, mã ATC: L04AC16.
Cơ chế tác dụng
Guselkumab là một kháng thể đơn dòng (mAb) IgG1λ của người gắn kết một cách có chọn lọc với protein interleukin 23 (IL-23) với độ đặc hiệu và ái lực cao. IL-23 là một cytokine liên quan đến các phản ứng viêm và đáp ứng miễn dịch. Bằng cách ngăn chặn IL-23 liên kết với thụ thể của nó, guselkumab ức chế tín hiệu tế bào phụ thuộc IL-23 và giải phóng cytokine tiền viêm.
Nồng độ IL-23 tăng lên trong da của bệnh nhân bị bệnh vảy nến thể mảng. Trong các mô hình in vitro, guselkumab đã được chứng minh là ức chế hoạt tính sinh học của IL-23 bằng cách ngăn chặn sự tương tác của nó với thụ thể IL-23 trên bề mặt tế bào, phá vỡ tín hiệu qua trung gian IL-23, sự hoạt hóa và điều hành cytokine. Guselkumab thể hiện tác dụng lâm sàng trong bệnh vảy nến thể mảng và viêm khớp vảy nến thông qua phong tỏa con đường cytokine IL-23.
Tác dụng dược lực học
Trong một nghiên cứu Pha I, điều trị bằng guselkumab làm giảm biểu hiện gen của con đường IL-23/Th17 và các biểu hiện gen liên quan đến bệnh vảy nến, như được trình bày bằng phân tích mRNA thu được từ sinh thiết da tổn thương của bệnh nhân bị bệnh vảy nến thể mảng ở Tuần 12 so với ban đầu. Trong cùng nghiên cứu Pha I này, điều trị với guselkumab dẫn đến cải thiện các đánh giá mô học của bệnh vảy nến ở Tuần 12, bao gồm giảm độ dày biểu bì và mật độ tế bào T. Hơn nữa, giảm nồng độ IL-17A, IL-17F và IL-22 trong huyết thanh so với giả dược đã được quan sát thấy ở bệnh nhân được điều trị bằng guselkumab trong các nghiên cứu Pha II và Pha III cho bệnh vảy nến thể mảng. Những kết quả này phù hợp với lợi ích lâm sàng quan sát được với điều trị guselkumab trong bệnh vảy nến thể mảng.
Trong những bệnh nhân viêm khớp vảy nến trong các nghiên cứu pha III, tại thời điểm ban đầu đã thấy tăng nồng độ protein phản ứng C, amyloid A huyết thanh, và IL-6, và Th17 cytokine phản ứng IL-17A, IL-17F và IL-22. Guselkumab làm giảm nồng độ các protein này trong 4 tuần kể từ khi bắt đầu điều trị. Guselkumab làm giảm hơn nữa nồng độ các protein này đến Tuần 24 so với thời điểm ban đầu và cũng như so với giả dược.
An toàn và hiệu quả trên lâm sàng (Xem thêm tờ hdsd tại đây)
Hấp thu
Sau liều duy nhất tiêm dưới da 100 mg ở đối tượng khỏe mạnh, guselkumab đạt nồng độ tối đa trong huyết thanh (Cmax) trung bình (± SD) 8,09 ± 3,68 mcg/mL vào khoảng ngày 5,5 sau tiêm.
Nồng độ guselkumab huyết thanh đạt được trạng thái ổn định ở Tuần 20 sau tiêm dưới da guselkumab 100 mg tại Tuần 0 và 4, và mỗi 8 tuần sau đó. Nồng độ đáy ở trạng thái ổn định của guselkumab trong huyết thanh trung bình (± SD) trong hai nghiên cứu Pha III cho bệnh nhân vảy nến thể mảng là 1,15 ± 0,73 mcg/mL và 1,23 ± 0,84 mcg/mL.
Dược động học của guselkumab ở những bệnh nhân viêm khớp vảy nến là tương tự với những bệnh nhân vảy nến. Sau khi tiêm dưới da guselkumab 100 mg tại Tuần 0, 4 và mỗi 8 tuần sau đó, nồng độ đáy guselkumab trong huyết thanh ở trạng thái ổn định cũng xấp xỉ 1,2 mcg/mL. Sau khi tiêm dưới da guselkumab 100 mg mỗi 4 tuần, nồng độ đáy guselkumab trong huyết thanh ở trạng thái ổn định là xấp xỉ 3,8 mcg/mL
Sinh khả dụng tuyệt đối của guselkumab sau tiêm dưới da liều duy nhất guselkumab 100 mg vào khoảng 49% ở người khỏe mạnh.
Phân phối
Thể tích phân phối trung bình pha cuối (Vz) sau liều duy nhất đường tĩnh mạch ở người khỏe mạnh vào khoảng 7 đến 10 L trong toàn bộ các nghiên cứu.
Chuyển dạng sinh học
Chưa mô tả được con đường chuyển hóa chính xác của guselkumab. Cũng như IgGmAb người, guselkumab được cho là bị phân hóa thành các peptide nhỏ và amino acid thông qua con đường dị hóa giống như IgG nội sinh.
Thải trừ
Thanh thải toàn thân trung bình (CL) sau liều duy nhất đường tĩnh mạch ở người khỏe mạnh trong khoảng 0,288 đến 0,479 L/ngày trong các nghiên cứu. Thời gian bán thải trung bình (T1/2) của guselkumab khoảng 17 ngày ở người khỏe mạnh và khoảng 15 đến 18 ngày ở người bị vảy nến thể mảng trong các nghiên cứu.
Phân tích dược động học quần thể cho thấy dùng đồng thời với các NSAID, các corticosteroid đường uống và các DMARD tổng hợp thường quy như methotrexate không ảnh hưởng tới độ thanh thải của guselkumab.
Tuyến tính / không tuyến tính
Nồng độ toàn thân của guselkumab (Cmax và AUC) đã tăng trong khoảng tuyến tính với liều sau khi tiêm dưới da liều duy nhất từ 10 mg đến 300 mg ở người khỏe mạnh hoặc ở bệnh nhân vảy nến thể mảng.
Người cao tuổi
Chưa có nghiên cứu đặc hiệu ở bệnh nhân cao tuổi. Trong số 1384 bệnh nhân bị vảy nến thể mảng sử dụng guselkumab trong các thử nghiệm lâm sàng Pha III và trong các phân tích dược động học quần thể, có 70 bệnh nhân ≥ 65 tuổi, bao gồm 4 bệnh nhân ≥ 75 tuổi. Trong số 746 bệnh nhân viêm khớp vảy nến đã dùng guselkumab trong các thử nghiệm lâm sàng Pha III, có tổng số 38 bệnh nhân tuổi từ 65 trở lên và không có bệnh nhân nào từ 75 tuổi trở lên.
Phân tích dược động học quần thể trên bệnh nhân vảy nến thể mảng và viêm khớp vảy nến cho thấy không có sự thay đổi rõ ràng trong CL/F ước tính ở bệnh nhân ≥ 65 tuổi so với bệnh nhân < 65 tuổi, điều này gợi ý không cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân cao tuổi.
Bệnh nhân suy thận hoặc suy gan
Chưa có nghiên cứu đặc hiệu để xác định ảnh hưởng của suy thận hoặc suy gan đến dược động học của guselkumab. Sự thải trừ qua thận của guselkumab nguyên vẹn là một IgG mAb, được cho là thấp và ít quan trọng; tương tự, suy gan không được cho là ảnh hưởng đến thanh thải guselkumab do các IgG mAb được đào thải chủ yếu qua chuyển hóa bên trong tế bào.
Dung dịch tiêm.
Dung dịch trong và không màu đến vàng nhạt.
Dữ liệu an toàn tiền lâm sàng
Dữ liệu tiền lâm sàng cho thấy không có nguy hại đặc hiệu cho người dựa trên các nghiên cứu quy ước về dược lý an toàn, độc tính liều lặp lại, độc tính đến khả năng sinh sản và sự phát triển trước và sau khi sinh.
Các nghiên cứu về độc tính liều lặp lại ở khỉ cynomolgus, guselkumab được dung nạp tốt qua đường tiêm dưới da và tĩnh mạch. Liều tiêm dưới da mỗi tuần 50 mg/kg cho khỉ đã tạo ra các giá trị nồng độ (AUC) và Cmax tăng cao tương ứng ít nhất 49 lần và > 200 lần so với nồng độ trong các nghiên cứu dược động học ở người. Hơn nữa, không ghi nhận tác dụng dược lý an toàn trên tim mạch hoặc nhiễm
độc miễn dịch bất lợi trong khi tiến hành các nghiên cứu độc tính liều lặp lại hoặc trong một nghiên cứu dược lý an toàn trên tim mạch ở khỉ cynomolgus.
Không quan sát thấy những kiểu thay đổi như ở giai đoạn trước khi phát triển khối u trong các đánh giá mô bệnh học của động vật đã dùng đến 24 tuần, hoặc sau giai đoạn hồi phục 12 tuần mà dược chất có thể được phát hiện trong huyết thanh.
Chưa tiến hành nghiên cứu về khả năng đột biến hoặc gây ung thư với guselkumab.
Không xác định được guselkumab trong sữa của khỉ cynomolgus khi định lượng tại ngày 28 sau sinh.
Sau khi lấy bơm tiêm đóng sẵn ra khỏi tủ lạnh, bảo quản bơm tiêm trong hộp và đợi khoảng 30 phút trước khi tiêm để đạt nhiệt độ phòng. Không lắc bơm tiêm đóng sẵn thuốc.
Trước khi tiêm, khuyến cáo nên quan sát để kiểm tra bơm tiêm đóng sẵn hoặc thuốc tiêm đóng sẵn. Dung dịch phải trong, không màu đến vàng nhạt, và có thể chứa ít phần tử nhỏ màu trắng hoặc trong. Không nên dùng TREMFYA nếu dung dịch vẩn đục hoặc đổi màu, hoặc chứa những phần tử lớn.
“Hướng dẫn sử dụng” được cung cấp trong mỗi hộp thuốc để mô tả đầy đủ về cách chuẩn bị và sử dụng bơm tiêm đóng sẵn.
Phải hủy bỏ bất kỳ thuốc nào không sử dụng hoặc chất thải y tế theo yêu cầu địa phương.
Bảo quản trong tủ lạnh (2°C - 8°C). Không để đông lạnh.
Bảo quản trong bao bì gốc để tránh ánh sáng.
Hộp 1 bơm tiêm x 1ml.
2 năm kể từ ngày sản xuất.
Cilag AG.