Ngừng kinh doanh
Mã: 105558
Thuốc này chỉ dùng theo đơn của bác sĩ. Vui lòng sao chép thông tin sản phẩm và gửi cho dược sĩ qua Zalo để được tư vấn
Khuyến mãi
Các ưu đãi khác
Hóa đơn từ 200,000đ tặng voucher trị giá 30,000đ mua sản phẩm OSTELIN 130V
Hóa đơn từ 200,000đ tặng voucher trị giá 50,000đ mua sản phẩm ENTEROGERMINA BABY COMFORT
| Mọi thông tin dưới đây đã được Dược sĩ biên soạn lại. Tuy nhiên, nội dung hoàn toàn giữ nguyên dựa trên tờ Hướng dẫn sử dụng, chỉ thay đổi về mặt hình thức. |
Mỗi viên nén bao tan trong ruột chứa:
Hoạt chất: Rabeprazol natri 20mg.
Tá dược: Heavy magnesi oxyd, mannitol, povidon, crospovidon, natri lauryl sulfat, natri stearyl fumarat, talc tinh khiết, natri hydroxyd, insta moist shield aqua II white, acryl EZE 93018509 (trắng), nước tinh khiết *.
*: Dung môi bay hơi trong quá trình sản xuất.
Rabeprazol được chỉ định để điều trị:
Đối với chỉ định điều trị một lần mỗi ngày, nên uống viên rabeprazol vào buổi sáng, trước khi ăn. Mặc dù thời gian dùng thuốc và thức ăn không ảnh hưởng đến tác dụng của thuốc, phác đồ này sẽ giúp bệnh nhân tuân thủ điều trị.
Cần hướng dẫn bệnh nhân rằng viên rabeprazol nên được nuốt cả viên, không nhai, nghiền nát hoặc bẻ viên.
Người lớn/người già:
Loét tá tràng hoạt động và loét dạ dày lành tính hoạt động: Liều khuyến cáo là 20mg, mỗi ngày 1 lần vào buổi sáng.
Hầu hết các bệnh nhân loét tá tràng hoạt động lành trong vòng 4 tuần lễ. Tuy nhiên, một số ít bệnh nhân có thể cần thêm 4 tuần điều trị để vết loét được chữa lành. Hầu hết các bệnh nhân loét dạ dày lành tính hoạt động lành trong vòng 6 tuần lễ. Tuy nhiên, một số ít bệnh nhân có thể cần thêm 6 tuần điều trị để vết loét được chữa lành.
Trào ngược dạ dày thực quản dạng loét/dạng bào mòn (GORD): Liều khuyến cáo là 20mg, mỗi ngày một lần trong 4 - 8 tuần.
Điều trị duy trì dài hạn trào ngược dạ dày - thực quản: Đối với điều trị dài hạn, liều khuyến cáo là 20 mg hoặc 10 mg mỗi ngày một lần tùy thuộc vào đáp ứng của bệnh nhân.
Điều trị triệu chứng trong trào ngược dạ dày - thực quản từ trung bình - rất nặng: Liều khuyến cáo là 10 mg, mỗi ngày một lần ở những bệnh nhân không có viêm thực quản. Nếu triệu chứng không được kiểm soát trong 4 tuần, bệnh nhân cần được chẩn đoán lại. Khi các triệu chứng đã được giải quyết, kiểm soát triệu chứng sau đó có thể đạt được bằng chế độ dinh dưỡng theo yêu cầu và dùng liều 10 mg một lần mỗi ngày khi cần thiết.
Hội chứng Zollinger – Ellison: Liều khởi đầu khuyến cáo là 60 mg, mỗi ngày một lần. Liều có thể tăng lên 100 mg, một lần mỗi ngày hoặc 120 mg chia 2 lần dựa trên nhu cầu của bệnh nhân. Điều trị nên tiếp tục theo như chỉ định lâm sàng.
Kết hợp trong phác đồ điều trị H.Pylori: Bệnh nhân nhiễm H.Pylori cần được điều trị bằng liệu pháp diệt trừ. Sự kết hợp sau đây được khuyến cáo trong 7 ngày: Rabeprazol 20 mg, hai lần mỗi ngày + clarithromycin 500 mg, 2 lần mỗi ngày và amoxicillin 1g, 2 lần mỗi ngày.
Bệnh nhân suy thận và suy gan:
Không cần phải điều chỉnh liều ở bệnh nhân suy thận hoặc suy gan.
Trẻ em:
Rabeprazole không được khuyến cáo sử dụng cho trẻ em, chưa có kinh nghiệm sử dụng thuốc trên nhóm bệnh nhân này.
Kinh nghiệm quá liều rabeprazole cố ý hay vô tình còn hạn chế. Liều tối đa được thiết lập không vượt quá 60 mg hai lần mỗi ngày, hoặc 160 mg một lần mỗi ngày. Các tác dụng nói chung là ít, đặc trưng bởi các tác dụng không mong muốn đã được biết đến và có thể hồi phục mà không cần can thiệp y tế.
Không có thuốc giải độc đặc hiệu của rabeprazole. Rabeprazole liên kết mạnh với protein huyết tương, do đó, không thực hiện thẩm phân máu. Cũng như các trường hợp quá liều khác, nên điều trị triệu chứng và có biện pháp hỗ trợ thích hợp.
Chống chỉ định ở người bệnh mẫn cảm với rabeprazol natri hoặc bất cứ thành phần nào của thuốc, phụ nữ có thai và phụ nữ đang trong thời kỳ cho con bú.
Các tác dụng không mong muốn thường gặp nhất của rabeprazol trong các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng là nhức đầu, tiêu chảy, đau bụng, suy nhược, đầy hơi, nổi mẩn đỏ và khô miệng. Phần lớn các tác dụng không mong muốn trong các nghiên cứu lâm sàng là ở mức độ nhẹ hoặc trung bình, và thoáng qua.
Các tác dụng phụ sau đây đã được báo cáo từ thử nghiệm lâm sàng và kinh nghiệm sau khi đưa sản phẩm ra thị trường.
Tần suất gặp được định nghĩa là: Thường gặp (> 1/100, < 1/10), ít gặp (> 1/1.000, < 1/100), hiểm gặp (> 1/10.000, < 1/1000) rất hiếm gặp (< 1/10.000).
| Hệ cơ quan | Thường gặp | Ít gặp | Hiếm gặp | Rất hiếm gặp | Không biết |
| Nhiễm trùng và nhiễm ký sinh trùng | Nhiễm trùng | ||||
| Rối loạn máu và hệ bạch huyết | Giảm bạch cầu trung tính, giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu, tăng bạch cầu | ||||
| Rối loạn hệ miễn dịch | Quá mẫn | ||||
| Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng | Biếng ăn | Hạ natri máu, Hạ magnesi máu4 | |||
| Rối loạn tâm thần | Mất ngủ | Căng thẳng | Trầm cảm | Lú lẫn | |
| Rối loạn hệ thần kinh | Đau đầu, chóng mặt | Tình trạng lơ mơ | |||
| Rối loạn mắt | Rối loạn thị giác | ||||
| Rối loạn mạch máu | Phù mạch ngoại biên | ||||
| Rối loạn hô hấp, lồng ngực và trung thất. | Ho, viêm họng, viêm mũi | Viêm phế quản, viêm xoang | |||
| Rối loạn tiêu hóa | Tiêu chảy, nôn, buồn nôn, đau bụng, táo bón, đầy hơi | Khó tiêu, khô miệng, ợ hơi | Viêm dạ dày, viêm miệng, loạn vị giác | ||
| Rối loạn gan - mật | Viêm gan, vàng da, bệnh não gan3 | ||||
| Rối loạn da và các mô dưới da | Phát ban, ban đỏ2 | Ngứa, đổ mồ hôi, phản ứng bóng nước |
Ban đỏ đa dạng, hoại tử biểu bì nhiễm độc (TEN), hội chứng Stevens-Johnson (SIS) |
Lupus ban đỏ bán cấp ở da4 | |
| Rối loạn cơ xương và mô liên kết | Đau không đặc hiệu, đau lưng | Đau cơ, chuột rút ở chân, đau khớp, gãy xương hông, cổ tay hoặc cột sống |
|
||
| Rối loạn thận, tiết niệu | Nhiễm trùng đường tiết niệu | Viêm thận kẽ |
|
||
| Rối loạn hệ sinh sản và tuyến vú |
|
Nữ hóa tuyến vú | |||
| Các rối loạn tổng quát và tại chỗ | Suy nhược, triệu chứng giống cúm | Tức ngực, ớn lạnh, sốt |
|
||
| Xét nghiệm | Tăng men gan3 | Tăng cân |
|
1 Bao gồm sưng mặt, hạ huyết áp và khó thở.
2 Ban đỏ, phản ứng bóng nước và các phản ứng quá mẫn đã thường được kiểm soát sau khi ngưng điều trị.
3 Báo cáo hiếm gặp của bệnh não gan đã được ghi nhận ở những bệnh nhân bị xơ gan tiềm tàng. Trong điều trị ở bệnh nhân rối loạn chức năng gan nặng các bác sĩ kê đơn nên thận trọng khi điều trị với các rabeprazol lần đầu ở những bệnh nhân này.
4 Xem mục Thận trọng.
Thông báo cho bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
6. Lưu ý |
- Thận trọng khi sử dụng
Sử dụng đồng thời rabeprazole với methotrexat Tài liệu cho thấy rằng việc sử dụng đồng thời các thuốc PPI với methotrexat (chủ yếu là ở liều cao) có thể làm tăng và kéo dài nồng độ methotrexat và/hoặc chất chuyển hóa của nó, có thể dẫn đến ngộ độc methotrexat. Trong khi điều trị với methotrexat liều cao, ngừng tạm thời thuốc PPI có thể được xem xét trong một số bệnh nhân. Ảnh hưởng đến sự hấp thu vitamin B12 Rabeprazol natri cũng như tất cả các loại thuốc kháng acid, có thể làm giảm sự hấp thu vitamin B12 (cyanocobalamin) do sự giảm hoặc thiếu acid dịch vị. Điều này nên được cân nhắc ở những bệnh nhân có giảm dự trữ vitamin B12 hoặc có yếu tố nguy cơ giảm hấp thu vitamin B12 khi điều trị dài hạn hoặc khi có biểu hiện lâm sàng của thiếu vitamin B12. Bệnh lupus ban đỏ bán cấp ở da (SCLE) Thuốc ức chế bơm proton có liên rất thường xuyên đến các trường hợp của SCLE. Nếu tổn thương xảy ra, đặc biệt là ở các vùng da tiếp xúc với ánh nắng, và nếu đi kèm với đau khớp, bệnh nhân nên đến gặp bác sĩ để có sự giúp đỡ y tế kịp thời và bác sĩ nên xem xét dừng rabeprazole. SCLE sau khi điều trị với một thuốc ức chế bơm proton có thể làm tăng nguy cơ SCLE với các thuốc ức chế bơm proton khác. Ảnh hưởng đến xét nghiệm: Sự tăng nồng độ Chromogranin A (CgA) có thể can thiệp vào việc dò tìm các khối u thần kinh nội tiết. Nhằm tránh sự can thiệp này, nên tạm thời ngừng điều trị bằng rabeprazol ít nhất năm ngày trước khi định lượng CgA. Nếu CgA và mức gastrin không trở về giới hạn tham khảo sau khi đo lần đầu tiên, xét nghiệm nên được lặp lại 14 ngày sau khi ngừng điều trị bằng thuốc ức chế bơm proton. - Thai kỳ và cho con búThời kỳ mang thai Không có dữ liệu về sự an toàn của rabeprazol trong thời kỳ mang thai. Nghiên cứu sinh sản thực hiện ở chuột và thỏ đã cho thấy không có bằng chứng về khả năng làm suy giảm khả năng sinh sản hoặc gây tổn hại cho thai nhi của rabeprazol natri, mặc dù thuốc qua nhau thai thấp ở chuột. Rabeprazole được chống chỉ định ở phụ nữ trong thời kỳ mang thai. Thời kỳ cho con bú Chưa rõ liệu rabeprazole có được bài tiết vào sữa mẹ hay không. Chưa có nghiên cứu dùng thuốc ở phụ nữ đang cho con bú. Tuy nhiên, rabeprazole được bài tiết trong sữa của chuột. Vì vậy rabeprazole không nên được sử dụng ở phụ nữ đang trong thời kỳ cho con bú. - Khả năng lái xe và vận hành máy mócDựa vào tính chất dược động học và dữ liệu về tác dụng không mong muốn, không chắc rằng rabeprazole có ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy móc. Tuy nhiên, nếu bệnh nhân cảm thấy buồn ngủ, không tỉnh táo thì không nên lái xe hoặc vận hành máy móc. - Tương tác thuốc
|
Cơ chế tác dụng: Rabeprazol natri thuộc nhóm các hợp chất kháng bài tiết (dẫn chất benzimidazol), không có tác dụng kháng histamin tại thụ thể H2 hay kháng cholinergic, nhưng ngăn cản bài tiết acid dạ dày do ức chế men H+, K+ATPase (acid hoặc bơm proton). Hiệu quả là liên quan đến liều và dẫn đến sự ức chế tiết acid ở cả điều kiện bình thường và khi bị kích thích. Nghiên cứu động vật cho thấy sau khi uống rabeprazol natri nhanh chóng biến mất ở cả trong máu và ở niêm mạc dạ dày. Là một base yếu, rabeprazol được hấp thu nhanh sau khi dùng tất cả các liều và được tập trung trong môi trường acid của tế bào thành dạ dày. Rabeprazol được chuyển thành dạng sulfonamid hoạt tính thông qua các proton và sau đó nó liên kết với các cystein có sẵn trên bơm proton.
Hoạt động kháng tiết: Sau khi uống một liều 20mg rabeprazol natri, tác dụng kháng tiết acid bắt đầu trong vòng 1 giờ, hiệu quả tối đa đạt được trong vòng 2 - 4 giờ. Tác dụng ức chế tiết acid ở điều kiện bình thường của dạ dày và điều kiện bị kích thích bởi thức ăn của rabeprazol natri ở thời điểm 23 giờ sau liều đầu tiên tương ứng là 69% và 82% và thời gian ức chế kéo dài lên đến 48 giờ. Hiệu quả của rabeprazol natri trên sự tăng tiết acid nhẹ với liều lặp lại mỗi ngày một lần, đạt được trạng thái ức chế ổn định sau 3 ngày. Khi thuốc được ngưng, hoạt động tiết acid bình thường trở lại sau hơn 2 - 3 ngày.
Giảm acid dạ dày do bất kỳ hình thức nào, bao gồm các thuốc ức chế bơm proton như rabeprazol, làm tăng số lượng vi khuẩn thường trú trong đường tiêu hóa. Điều trị bằng thuốc ức chế bơm proton có thể làm tăng nguy cơ nhiễm trùng đường tiêu hóa như Salmonella, Campylobacter và Clostridium difficile.
Tác dụng trên nồng độ gastrin huyết thanh: Trong các nghiên cứu lâm sàng bệnh nhân được điều trị ngày một lần với 10 hoặc 20mg rabeprazol natri, trong thời gian lên đến 43 tuần, nồng độ gastrin huyết thanh tăng trong 2-8 tuần đầu tiên phản ánh tác dụng ức chế tiết acid và ổn định trong suốt thời gian điều trị tiếp theo. Giá trị gastrin trở lại mức trước khi điều trị, thường là trong vòng 1-2 tuần sau khi ngưng điều trị.
Mẫu sinh thiết dạ dày ở hang vị và đáy từ hơn 500 bệnh nhân được điều trị bằng rabeprazol hoặc thuốc so sánh trong 8 tuần cho thấy không có sự thay đổi trong mô tế bào ECL, mức độ viêm dạ dày, tỷ lệ mắc bệnh viêm dạ dày teo, chuyển sản ruột hoặc sự phân bố của nhiễm vi khuẩn H.pylori. Trong hơn 250 bệnh nhân sau 36 tháng điều trị liên tục, quan sát cho thấy không có thay đổi đáng kể.
Tác dụng khác: tác dụng toàn thân của rabeprazol natri trên thần kinh trung ương, hệ tim mạch và hô hấp chưa được biết đến. Điều trị với rabeprazol natri liều 20mg trong 2 tuần không có ảnh hưởng trên chức năng tuyến giáp, chuyển hóa carbohydrat, hoặc mức độ tuần hoàn của hormon tuyến cận giáp, cortisol, estrogen, testosteron, prolactin, cholecystokinin, secretin, glucagon, hormon FSH, FSH hormon LH, renin, aldosteron hay hormon tăng trưởng.
Các nghiên cứu ở người khỏe mạnh cho thấy rabeprazol natri không có tương tác đáng kể về mặt lâm sàng với amoxicillin. Rabeprazol không ảnh hưởng xấu đến nồng độ trong huyết tương của amoxicillin hoặc clarithromycin khi điều trị phối hợp để diệt vi khuẩn H. pylori ở đường tiêu hóa trên.
Trong thời gian điều trị với các thuốc kháng tiết, nồng độ gastrin huyết thanh tăng lên để đáp ứng với sự giảm tiết acid. CgA cũng tăng do giảm nồng độ axid dạ dày. Việc tăng mức CgA có thể ảnh hướng đến chẩn đoán khối u thần kinh nội tiết.
Bằng chứng được công bố cho thấy nên ngưng các thuốc ức chế bơm proton từ 5 ngày đến 2 tuần trước khi đo CgA. Điều này là để nồng độ CgA tăng sau khi điều trị với PPI trở lại mức bình thường.
Hấp thu:
Sự hấp thu của rabeprazol chỉ bắt đầu sau khi viên thuốc qua được dạ dày. Sự hấp thu nhanh, với mức đỉnh trong huyết tương của rabeprazol xảy ra khoảng 3,5 giờ sau khi uống liều 20mg. Nồng độ đỉnh trong huyết tương (Cmax) và AUC là tuyến tính trong khoảng liều 10mg đến 40mg. Sinh khả dụng tuyệt đối của một liều 20mg đường uống (so với tiêm tĩnh mạch) là khoảng 52% do một phần lớn bị chuyển hóa qua gan lần đầu. Ngoài ra, sinh khả dụng không tăng khi dùng liều lặp lại. Ở những người khỏe mạnh, thời gian bán thải huyết tương của thuốc là khoảng một giờ (khoảng 0,7-1,5 giờ), và tổng độ thanh thải cơ thể là 283 ± 98 ml / phút. Không có tương tác lâm sàng liên quan đến thức ăn. Thức ăn và thời gian dùng thuốc không ảnh hưởng đến hấp thu và tác dụng điều trị của rabeprazol.
Phân bố:
Rabeprazol liên kết với protein huyết tương là khoảng 97%.
Chuyển hóa và thải trừ:
Rabeprazol cũng như các thuốc khác trong nhóm thuốc ức chế bơm proton (PPI), được chuyển hóa bởi cytochrom P450 (CYP450), hệ thống chuyển hóa thuốc ở gan.
Trong các nghiên cứu in vitro ở người cho thấy rabeprazol được chuyển hóa bởi isoenzym của CYP450 (CYP2C19 và CYP3A4). Trong những nghiên cứu này, ở nồng độ trong huyết tương dự kiến rabeprazol không gây cảm hóa và cũng không ức chế CYP3A4; và mặc dù các nghiên cứu in vitro có thể không phải luôn luôn tiên đoán được trình trạng xảy ra trong cơ thể, những nghiên cứu này chỉ ra rằng không có tương tác được giữa rabeprazol và cyclosporin. Trong cơ thể người, thioether (M1) và acid cacboxylic (M6) là chất chuyển hóa chính trong huyết tương, cùng với các chất chuyển hóa thứ cấp như sulphon (M2), desmethyl-thioether (M4) và acid mercapturic liên hợp (M5) quan sát được ở nồng độ thấp hơn. Chỉ có chất chuyển hóa desmethyl (M3) có tác dụng chống bài tiết yếu, nhưng nó không được phát hiện trong huyết tương.
Sau khi uống một liều duy nhất 20mg rabeprazol, không phát hiện rabeprazol ở dạng không biến đổi được bài tiết qua nước tiểu. Khoảng 90% liều dùng được thải trừ qua nước tiểu, chủ yếu dưới dạng hai chất chuyển hóa: acid mercapturic liên hợp (M5) và acid cacboxylic (M6), cộng với hai chất chuyển hóa chưa rõ. Phần còn lại của liều dùng được thải trừ qua phân.
Giới tính: Điều chỉnh theo khối lượng cơ thể và chiều cao, không có khác biệt đáng kể về các thông số dược động học sau khi dùng liều 20mg rabeprazol ở cả nam và nữ.
Bệnh nhân bị rối loạn chức năng thận: Ở bệnh nhân ổn định, giai đoạn cuối, suy thận đòi hỏi phải lọc máu chu kỳ (độ thanh thải creatinin ≤ 5 ml/min /1,73 m2), sự phân bố của rabeprazol là gần như tương tự như ở người tình nguyện khỏe mạnh. AUC và Cmax ở những bệnh nhân này thấp hơn so với các thông số tương ứng ở người tình nguyện khỏe mạnh khoảng 35%. Thời gian bán thải trung bình của rabeprazol là 0,82 giờ ở người tình nguyện khỏe mạnh và 0,95 giờ ở bệnh nhân đang lọc máu và 3,6 giờ sau khi lọc máu. Độ thanh thải của thuốc ở những bệnh nhân có bệnh thận yêu cầu phải lọc máu chu kỳ xấp xỉ gấp hai lần ở người tình nguyện khỏe mạnh.
Bệnh nhân bị rối loạn chức năng gan: Sau khi dùng một liều 20 mg duy nhất của rabeprazol cho bệnh nhân bị suy gan mạn tính mức độ nhẹ đến trung bình cho thấy AUC tăng gấp đôi và thời gian bán thải tăng gấp 2-3 lần so với người tình nguyện khỏe mạnh. Tuy nhiên, với liều 20 mg hàng ngày trong 7 ngày, AUC chỉ tăng lên 1,5 lần và Cmax tăng 1,2 lần. Thời gian bán thải của rebeprazol ở bệnh nhân suy gan là 12,3 giờ so với 2,1 giờ ở người tình nguyện khỏe mạnh. Các đáp ứng dược lực học (kiểm soát pH dạ dày) ở hai nhóm là tương đương về mặt lâm sàng.
Người già: Thải trừ của rabeprazol đã phần nào giảm ở người già. Sau 7 ngày dùng thuốc với liều 20mg rabeprazol hằng ngày, AUC tăng gần gấp đôi, Cmax tăng 60% và t½tăng lên khoảng 30% so với thanh niên tình nguyện khỏe mạnh. Tuy nhiên, không có bằng chứng về sự tích lũy rabeprazol.
Hiện tượng đa hình của gen CYP2C19: Sau 7 ngày dùng thuốc với liều 20 mg rabeprazol hằng ngày, ở những người có men CYP2C19 chuyển hóa kém, có AUC tăng 1,9 lần t½ tăng khoảng 1,6 lần so với các thông số tương ứng ở những người có men chuyển hóa mạnh, trong khi Cmax đã chỉ tăng 40%.
Viên nén bao tan trong ruột.
Bảo quản ở nhiệt độ dưới 30°C, tránh ánh sáng và độ ẩm.
Hộp 5 vỉ x 10 viên.
24 tháng kể từ ngày sản xuất.
The Acme Laboratories., Ltd.

Dược sĩ Đại học Trương Duy Đăng
Dược sĩ Trương Duy Đăng tốt nghiệp Khoa Dược tại trường Đại Học Nam Cần Thơ. Có hơn 9 năm kinh nghiệm công tác trong lĩnh vực tư vấn Dược phẩm. Hiện đang là quản lí tại nhà thuốc An Khang.
Tờ hướng dẫn sử dụng

