Thông tin sản phẩm
Hướng dẫn sử dụng
| Mọi thông tin dưới đây đã được Dược sĩ biên soạn lại. Tuy nhiên, nội dung hoàn toàn giữ nguyên dựa trên tờ Hướng dẫn sử dụng, chỉ thay đổi về mặt hình thức. |
Mỗi viên nén bao phim Egolanza 10mg chứa:
Người lớn
Người lớn:
Trẻ em:
Không dùng Olanzapine cho trẻ em và thanh thiếu niên dưới 18 tuổi do chưa có các dữ liệu về độ an toàn và hiệu quả. Trong các nghiên cứu ngắn hạn trên bệnh nhân thanh thiếu niên, tỷ lệ tăng cân, rối loạn lipid và prolactin xảy ra nhiều hơn so với người lớn (xem mục Cảnh báo đặc biệt và thận trọng khi sử dụng, Tác dụng không mong muốn, Dược lực học và Dược động học).
Người già:
Không cần dùng liều khởi đầu thấp (5 mg/ngày) cho tất cả bệnh nhân lớn tuổi nhưng nên cân nhắc cho người già trên 65 tuổi khi có kèm các yếu tố lâm sàng không thuận lợi (xem mục Cảnh báo đặc biệt và thận trọng khi sử dụng).
Bệnh nhân suy thận và/ hoặc suy gan:
Nên cân nhắc dùng liều khởi đầu thấp (5mg) cho những bệnh nhân này. Trong trường hợp suy gan mức độ trung bình (xơ gan, loại A hoặc B theo phân loại Child-Pugh), nên dùng liều khởi đầu 5mg và thận trọng khi tăng liều.
Giới tính:
Không có khác nhau về liều khởi đầu và khoảng liều thông thường ở người bệnh nam và người bệnh nữ.
Bệnh nhân hút thuốc lá:
(Xem mục Tương tác với các thuốc khác và các dạng tương tác khác và mục Dược động học).
Olanzapine có thể được sử dụng mà không cần chú ý đến bữa ăn do sự hấp thu của thuốc không bị ảnh hưởng bởi thức ăn.
Dấu hiệu và triệu chứng
Xử trí quá liều
Không có thuốc giải độc đặc hiệu cho olanzapine. Gây nôn không được khuyến cáo. Có thể áp dụng các biện pháp điều trị quá liều thông thường (như rửa dạ dày, uống than hoạt tính). Sử dụng than hoạt tính được chứng minh làm giảm sinh khả dụng đường uống của olanzapine 50 đến 60%. Cần điều trị triệu chứng và theo dõi chức năng các cơ quan căn cứ trên biểu hiện lâm sàng, bao gồm cả điều trị hạ huyết áp và trụy tuần hoàn và hỗ trợ chức năng hô hấp. Không dùng epinephrine, dopamine, hoặc các thuốc cường giao cảm khác có tác dụng chủ vận bêta do việc kích thích bêta có thể làm nặng thêm tình trạng hạ huyết áp. Theo dõi tim mạch để phát hiện chứng loạn nhịp tim. Tiếp tục theo dõi cẩn thận cho đến khi bệnh nhân hồi phục.
Trẻ em
Chưa có các dữ liệu quá liều ở trẻ em và thanh thiếu niên.
Người lớn
| Rất thường xuyên | Thường xuyên | Không thường xuyên | Không biết |
| Rối loạn hệ máu và miễn dịch | |||
| Tăng bạch cầu ưa eosin | Giảm bạch cẩu Giảm bạch cầu trung tính | Giảm tiểu cầu | |
| Rối loạn hệ miễn dịch | |||
| Phản ứng dị ứng | |||
| Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng | |||
| Tăng cân1 | Tăng nồng độ cholesterol 2,3 Tăng nồng độ glucose 4 Tăng nồng độ triglyceride 2,5 Glucose niệu Thèm ăn | Xuất hiện hoặc làm trám trọng bệnh tiểu đường, đôi khi có liên quan đến nhiễm ceton acid hoặc hôn mê, bao gồm cả một vài trường hợp tử vong (xem mục Cảnh báo đặc biệt và thận trọng khi sử dụng), giảm thân nhiệt | |
| Rối loạn hệ thần kinh trung ương | |||
| Buồn ngủ | Chóng mặt Bồn chồn6 Hội chứng Parkinson6 Loạn vận động6 | Động kinh trong hầu hết các trường hợp có tiền sử động kinh hoặc các yếu tố nguy cơ động kinh Hội chứng an thần kinh ác tính (xem mục Cảnh báo đặc biệt và thận trọng khi sử dụng) Loạn trương lực cơ (bao gồm cả cơ mắt) Rối loạn vận động muộn Các triệu chứng ngừng thuốc | |
| Rối loạn tim | |||
| Nhịp tim chậm Kéo dài đoạn QT (xem mục Cảnh báo đặc biệt và thận trọng khi sử dụng) | Nhịp nhanh thất/ rung, chết tim đột ngột (xem mục Cảnh báo đặc biệt và thận trọng khi sử dụng) | ||
| Rối loạn mạch | |||
| Hạ huyết áp tư thế | Huyết khối tắc mạch (bao gồm tắc mạch phổi và huyết khối tĩnh mạch sâu) (xem mục Cảnh báo đặc biệt và thận trọng khi sử dụng) |
| Rất thường xuyên | Thường xuyên | Không thường xuyên | Không biết |
| Rối loạn tiêu hóa | |||
| Tác dụng kháng cholinergic nhẹ, thoáng qua bao gồm táo bón và khô miệng | Viêm tụy | ||
| Rối loạn gan-mật | |||
| Tăng thoáng qua không có triệu chứng các aminotransferase gan (ALT, AST) đặc biệt khi mới bắt đầu điều trị (xem mục Cảnh báo đặc biệt và thận trọng khi sử dụng) | Viêm gan (bao gồm tổn thương tế bào gan, ứ mật và tổn thương kết hợp) | ||
| Rối loạn da và phần mềm dưới da | |||
| Phát ban | Phản ứng nhạy cảm với ánh sáng Rụng tóc | ||
| Rối loạn cơ xương và mô liên kết | |||
| Globin cơ niệu kịch phát | |||
| Rối loạn thận và tiết niệu | |||
| Tiểu tiện không kiểm soát, bí tiểu | Tiểu dắt |
| Thai kỳ và sau sinh | |||
| Hội chứng cai thuốc ở trẻ sơ sinh (xem mục Phụ nữ có thai và cho con bú) | |||
| Rối loạn sinh dục và hệ sinh sản | |||
| Rối loạn khả năng cương cứng ở nam giới Suy giảm khả năng tình dục ở nam giới và nữ giới | Mất kinh To vú Tiết sữa bất thường ở nữ giới To vú ở đàn ông | Cương đau dương vật | |
| Rối loạn toàn thân | |||
| Suy nhược Mệt mỏi Phù | |||
| Xét nghiệm cận lâm sàng | |||
| Tăng nồng độ prolactin trong huyết thanh 8 | Creatine phosphokinase cao Tăng bilirubin tổng | Tăng phosphatase kiềm |
1Tăng cân có ý nghĩa lâm sàng đã quan sát được trên tất cả các loại chỉ số khối cơ thể (BMI). Sau điều trị ngắn hạn (thời gian trung bình 47 ngày), tăng cân ≥ 7% trọng lượng cơ thể ban đầu xảy ra rất thường xuyên (tỷ lệ 22,2%), tăng ≥ 15% trọng lượng cơ thể ban đầu thường xuyên xảy ra (tỷ lệ 4,2%) và tăng ≥ 25% trọng lượng cơ thể ban đầu xảy ra không thường xuyên (tỷ lệ 0,8%). Bệnh nhân tăng cân ≥ 7%, ≥ 15% và ≥ 25% trọng lượng cơ thể ban đầu của họ khi dùng thuốc dài hạn (ít nhất 48 tuần) xảy ra rất thường xuyên (tỷ lệ tương ứng là 64,4%; 31,7% và 12,3%).
2Có nghĩa là gia tăng nồng độ lipid lúc đói (cholesterol toàn phần, LDL cholesterol, và triglycerides) cao hơn ở những bệnh nhân không có bằng chứng của rối loạn lipid ban đầu.
3Quan sát được nồng độ bình thường lúc đói ban đầu (< 5,17 mmol/l) tăng lên mức cao |≥ 6,2 mmol/l}. Thay đổi nồng độ cholesterol toàn phần lúc đói từ giới hạn ban đầu (≥ 5,17 đến < 6,2 mmol/l) lên mức cao (≥ 6,2 mmol/l) xảy ra rất thường xuyên.
4Quan sát được nồng độ bình thường lúc đói ban đầu (< 5,56 mmol/l) tăng lên mức cao (≥ 7 mmol/l).
Thay đổi đường huyết lúc đói từ giới hạn ban đầu (≥ 5,56 đến <7 mmol/l) lên mức cao (≥ 7 mmol/l) xảy ra rất thường xuyên.
5Quan sát được nồng độ bình thường lúc đói ban đầu (< 1,69 mmol/l) tăng lên mức cao |≥ 2,26 mmol/l). Thay đổi nồng độ triglycerides lúc đói từ giới hạn ban đầu (≥ 1,69 mmol/l đến < 2,26 mmol/l) lên mức cao (≥ 2,26 mmol/l) xảy ra rất thường xuyên.
6Trong các thử nghiệm lâm sàng, tỷ lệ xảy ra hội chứng Parkinson và rối loạn trương lực ở các bệnh nhân được điều trị bằng olanzapine cao hơn, nhưng không có ý nghĩa thống kê so với giả dược. Bệnh nhân được điều trị bằng Olanzapine có tỷ lệ xảy ra hội chứng Parkinson, bồn chồn và rối loạn trương lực thấp hơn so với liều chuẩn của haloperidol. Trong trường hợp không có thông tin chi tiết về tiền sử của từng rối loạn. vận động ngoại tháp cấp tính và muộn, hiện nay không thể kết luận được rằng olanzapine ít gây rối loạn vận động muộn và/ hoặc các hội chứng ngoại tháp muộn khác.
7Các triệu chứng cấp tính như toát mồ hôi, mất ngủ, run, lo lắng, buồn nôn và nôn đã được báo cáo khi ngừng sử dụng olanzapine đột ngột.
8 Trong các thử nghiệm lâm sàng lên đến 12 tuần, nồng độ prolactin trong huyết tương vượt quá giới hạn trên của mức bình thường xảy ra trên khoảng 30% số bệnh nhân điều trị bằng olanzapine có giá trị prolactin ban đầu bình thường. Trong đa số những bệnh nhân này, nồng độ prolactin chỉ tăng nhẹ và thấp hơn hai lần giới hạn trên của mức bình thường.
Điều trị dài hạn (ít nhất 48 tuần)
Tỷ lệ bệnh nhân gặp tác dụng phụ có ảnh hưởng đáng kể trên lâm sàng: tăng cân, tăng nồng độ glucose, tăng cholesterol hoặc triglycerides tổng / LDL / HDL tăng theo thời gian. Ở người lớn đã điều trị 9-12 tháng, tỷ lệ tăng đường huyết trung bình chậm lại sau khoảng 6 tháng.
Thông tin thêm cho nhóm bệnh nhân đặc biệt
Trẻ em
Olanzapine không được chỉ định điều trị cho trẻ em và thanh thiếu niên dưới 18 tuổi. Mặc dù không có nghiên cứu lâm sàng được tiến hành để so sánh việc dùng thuốc cho thanh thiếu niên với người lớn, dữ liệu từ các thử nghiệm cho thanh thiếu niên được so sánh với các thử nghiệm của người trưởng thành. Bảng sau đây tóm tắt các phản ứng bất lợi ở thanh thiếu niên (từ 13-17 tuổi) với tần suất xuất hiện cao hơn so với người lớn hoặc các phản ứng bất lợi chỉ xảy ra trong thử nghiệm lâm sàng ngắn hạn ở thanh thiếu niên. Tăng cân đáng kể có ý nghĩa lâm sàng (≥ 7%) dường như xảy ra thường xuyên hơn ở thanh thiếu niên so với người lớn với cùng thời gian dùng thuốc. Khi dùng thuốc dài hạn (ít nhất 24 tuần). mức độ tăng cân và tỷ lệ thanh thiếu niên tăng cân đáng kể cao hơn so với khi dùng thuốc ngắn hạn. Trong mỗi nhóm tần suất, phản ứng bất lợi được trình bày theo thứ tự mức độ nghiêm trọng giảm dần. Các thuật ngữ tần suất được liệt kê được quy định như sau: rất thường xuyên (≥ 1/10); thường xuyên (≥ 1/100 đến <1/10).
Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng
Rối loạn hệ thần kinh
Rất thường xuyên. An thần (bao gồm: buồn ngủ triền miên, hôn mê, ngủ gà).
Rối loạn tiêu hóa
Thường xuyên: Khô miệng.
Rối loạn gan mật
Rất thường xuyên: Tăng các aminotransferase gan (ALT/AST; xem mục Cảnh báo đặc biệt và thận trọng khi sử dụng).
Các xét nghiệm cận lâm sàng
Rất thường xuyên: Giảm bilirubin tổng, tăng GGT, tăng nồng độ prolactin trong huyết thanh12
9Sau điều trị ngắn hạn (thời gian trung bình 22 ngày) tăng cân ≥ 7% trọng lượng cơ thể ban đầu (kg) xảy ra rất thường xuyên (tỷ lệ 40,6%), tăng ≥ 15% trọng lượng cơ thể ban đầu thường xuyên xảy ra (tỷ lệ 7,1%) và tăng ≥ 25% trọng lượng cơ thể ban đầu thường xuyên xảy ra (tỷ lệ 2,5%). Khi điều trị dài hạn (ít nhất 24 tuần), có 89,4% số bệnh nhân tăng ≥ 7% trọng lượng cơ thể ban đầu, 55,3% số bệnh nhân tăng 2 15% và 29,1% số bệnh nhân tăng ≥ 25% trọng lượng cơ thể ban đầu.
10 Quan sát được nồng độ lúc đói ban đầu từ bình thường (< 1,016 mmol/l) tăng lên mức cao (≥ 1,467 mmol/l) và những thay đổi nồng độ triglyceride lúc đói từ giới hạn ban đầu (≥ 1,016 mmol/l đến < 1,467 mmol/l) lên mức cao (≥ 1,467 mmol/l).
11 Thay đổi nồng độ cholesterol toàn phần lúc đói ban đầu từ bình thường (< 4,39 mmol/l) tăng lên mức cao (≥ 5,17 mmol /l) thường xuyên xảy ra . Thay đổi nồng độ cholesterol toàn phần lúc đói từ giới hạn ban đầu (≥ 4,39 đến < 5,17 mmol/l) lên mức cao (≥ 5,17 mmol/l) xảy ra rất thường xuyên.
12 Tăng nồng độ prolactin trong huyết thanh được báo cáo xảy ra ở 47,4% số bệnh nhân vị thành niên.
6. Lưu ý |
- Thận trọng khi sử dụng
Bệnh Parkinson Việc dùng olanzapine trong điều trị loạn thần liên quan đến chủ vận dopamin ở bệnh nhân bị bệnh Parkinson không được khuyến cáo. Trong các thử nghiệm lâm sàng, các triệu chứng bệnh Parkinson nặng thêm và ảo giác được báo cáo xảy ra rất thường xuyên và xảy ra nhiều hơn so với nhóm đối chứng (xem mục Tác dụng không mong muốn) và olanzapine không đem lại hiệu quả điều trị cao hơn so với nhóm giả dược trong điều trị các triệu chứng loạn thần. Trong các thử nghiệm này, ban đầu bệnh nhân được sử dụng các thuốc chống Parkinson (chủ vận dopamin) với liều thấp nhất có hiệu quả để ổn định bệnh và duy trì các thuốc này với chế độ liều trên trong suốt thời gian nghiên cứu. Olanzapine được dùng với liều khởi đầu 2,5 mg/ngày và được chuẩn liều đến liều tối đa 15 mg/ngày. Hội chứng an thần kinh ác tính Hội chứng an thần kinh ác tính là tình trạng có khả năng đe dọa tính mạng người bệnh liên quan đến điều trị bằng thuốc chống loạn thần. Hiếm có báo cáo về trường hợp hội chứng an thần kinh ác tính liên quan đến olanzapine. Những biểu hiện lâm sàng của hội chứng an thần kinh ác tính là sốt cao, cứng cơ, trạng thái tâm thần thay đổi và có biểu hiện không ổn định của hệ thần kinh thực vật (mạch hoặc huyết áp không đều, nhịp tim nhanh, toát mồ hôi, loạn nhịp tim). Các dấu hiệu khác bao gồm tăng creatinine phosphokinase, myoglobin niệu (tiêu cơ vân) và suy thận cấp. Cần ngừng ngay tất cả các loại thuốc chống loạn thần, kể cả olanzapine, khi bệnh nhân có các biểu hiện và triệu chứng của hội chứng an thần kinh ác tính hoặc khi có sốt cao không rõ nguyên nhân mà không có các biểu hiện lâm sàng của hội chứng an thần kinh ác tính. Tăng đường huyết và tiểu đường Hiếm khi xảy ra tăng đường huyết và/ hoặc làm trầm trọng bệnh tiểu đường, đôi khi kèm theo nhiễm ceton acid hoặc hôn mê, bao gồm cả một vài trường hợp tử vong (xem mục Tác dụng không mong muốn). Trong một số trường hợp, tăng cân đã được báo cáo, đó có thể là một yếu tố dẫn đến tăng đường huyết. Bệnh nhân cần được theo dõi lâm sàng phù hợp theo hướng dẫn sử dụng các thuốc chống loạn thần, chẳng hạn đo đường huyết khi bắt đầu, sau 12 tuần điều trị bằng olanzapine và mỗi năm sau đó. Bệnh nhân điều trị bằng các thuốc chống loạn thần, bao gồm cả olanzapine, cần được theo dõi các dấu hiệu và triệu chứng của tăng đường huyết (như khát nhiều, đi tiểu nhiều, ăn nhiều, và yếu mệt) và bệnh nhân bị đái tháo đường hoặc có các yếu tố nguy cơ của đái tháo đường cần được theo dõi thường xuyên để kiểm soát đường huyết. Cần kiểm tra cân nặng thường xuyên, chẳng hạn khi bắt đầu, sau 4, 8 và 12 tuần điều trị bằng olanzapine và mỗi quý sau đó. Thay đổi nồng độ lipid Thay đổi nồng độ lipid theo hướng bất lợi đã được báo cáo trong các thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát giả dược (xem mục Tác dụng không mong muốn). Cần kiểm soát lipid một cách phù hợp, đặc biệt ở những bệnh nhân rối loạn lipid và ở những bệnh nhân có yếu tố nguy cơ gây rối loạn lipid. Bệnh nhân điều trị bằng bất kỳ thuốc chống loạn thần nào, kể cả Egolanza, cần được theo dõi thường xuyên nồng độ lipid theo hướng dẫn sử dụng các thuốc chống loạn thần, chẳng hạn khi bắt đầu, sau 12 tuần điều trị bằng Olanzapine và mỗi 5 năm sau đó. Tác dụng chống tiết cholin Olanzapine thể hiện hoạt tính kháng cholinergic trên in vitro, nhưng trong các thử nghiệm lâm sàng các triệu chứng liên quan xuất hiện với tỷ lệ thấp. Tuy nhiên, do kinh nghiệm lâm sàng sử dụng olanzapine ở những bệnh nhân có các bệnh kèm theo còn ít, nên thận trọng khi kê đơn Olanzapine cho bệnh nhân phì đại tuyến tiền liệt, tắc liệt ruột và các tình trạng liên quan. Chức năng gan Các aminotransferase gan, alanine transferase (ALT), aspartate transferase (AST) đôi khi tăng thoáng qua, không có biểu hiện triệu chứng, đặc biệt ở giai đoạn đầu của quá trình điều trị. Cần thận trọng theo dõi các bệnh nhân có tăng ALT và/hoặc AST, bệnh nhân có các dấu hiệu và triệu chứng của suy gan, bệnh nhân đã có sẵn tình trạng chức năng gan bị hạn chế và bệnh nhân đang dùng các thuốc có độc tính trên gan. Trong trường hợp bệnh nhân đã được chẩn đoán viêm gan (bao gồm cả tổn thương tế bào gan, ứ mật hoặc kết hợp, cần ngừng điều trị bằng Olanzapine. Giảm bạch cầu trung tính Thận trọng khi dùng thuốc cho những bệnh nhân có số lượng bạch cầu và/hoặc bạch cầu trung tính thấp do bất kỳ nguyên nhân nào, bệnh nhân có tiền sử ức chế/ngộ độc tủy xương do thuốc, người bệnh có ức chế tủy xương do bệnh kèm theo, xạ trị liệu hoặc hóa trị liệu và người bệnh bị tăng bạch cầu ưa eosin hoặc bệnh tăng sinh tủy xương. Giảm bạch cầu trung tính được báo cáo xảy ra thường xuyên khi sử dụng đồng thời olanzapine và valproate (xem mục Tác dụng không mong muốn). Ngừng điều trị Các triệu chứng cấp tính như toát mồ hôi, mất ngủ, rùng mình, lo âu, buồn nôn hoặc nôn hiếm khi xảy ra (tỷ lệ < 0,01%) khi ngừng sử dụng olanzapine đột ngột. Đoạn QT Trong các thử nghiệm lâm sàng, kéo dài đoạn QT có ý nghĩa lâm sàng (QTcF ≥ 500 mili giây tại bất kỳ thời gian nào sau thời gian ban đầu ở bệnh nhân có QTcF ban đầu < 500 mili giây) không thường xuyên xảy ra (tỷ lệ 0,1% đến 1%) ở bệnh nhân điều trị bằng olanzapine, không có sự khác biệt đáng kể liên quan đến hoạt động của tim so với nhóm đối chứng. Tuy nhiên, cũng như đối với các thuốc chống loạn thần khác, thận trọng khi dùng olanzapine đồng thời với các thuốc được biết là làm tăng khoảng QT, đặc biệt ở người già hoặc ở những bệnh nhân có hội chứng kéo dài đoạn QT bẩm sinh, suy tim sung huyết, phì đại tim, hạ kali máu hoặc hạ magnesi máu. Huyết khối tắc mạch Sự liên quan giữa việc điều trị bằng olanzapine và huyết khối tĩnh mạch xảy ra không thường xuyên (tỷ lệ ≥ 0,1% và < 1%). Mối quan hệ nhân quả giữa hiện tượng huyết khối tĩnh mạch và việc điều trị bằng olanzapine chưa được xác định. Tuy nhiên, do những bệnh nhân bị tâm thần phân liệt thường có các yếu nguy cơ của huyết khối tĩnh mạch, nên cần phải xác định và có biện pháp phòng ngừa tất cả các yếu tố nguy cơ của huyết khối tĩnh mạch, ví dụ sự không vận động của bệnh nhân. Tác dụng trên hệ thần kinh trung ương Vì olanzapine có tác dụng chủ yếu trên hệ thần kinh trung ương, nên cần thận trọng khi dùng kết hợp với các thuốc khác cũng tác dụng trên thần kinh trung ương và rượu. Vì olanzapine thể hiện tính đối kháng với dopamine trên in vitro nên olanzapine có thể đối kháng với tác dụng của các chất chủ vận dopamine gián tiếp và trực tiếp. Động kinh Cần thận trọng khi dùng Olanzapine cho bệnh nhân có tiền sử động kinh hoặc có các yếu tố làm giảm ngưỡng động kinh. Động kinh hiếm khi xảy ra ở bệnh nhân điều trị bằng olanzapine. Đa phần những người bệnh này có tiền sử động kinh hoặc có các yếu tố nguy cơ của bệnh động kinh. Loạn vận động muộn Trong các nghiên cứu so sánh trong thời gian 1 năm hoặc ít hơn, tỷ lệ biến chứng loạn vận động ở bệnh nhân điều trị bằng olanzapine thấp hơn con số có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên, nguy cơ loạn vận động muộn tăng lên khi dùng thuốc trong thời gian dài, nên cần giảm liều hoặc ngừng thuốc khi thấy các dấu hiệu hoặc triệu chứng của loạn vận động muộn. Các triệu chứng này có thể nặng lên theo thời gian hoặc thậm chí xuất hiện sau khi ngừng điều trị. Hạ huyết áp tư thế Trong các thử nghiệm lâm sàng, hạ huyết áp tư thế ít khi xảy ra ở người lớn tuổi. Cũng như đối với các thuốc chống loạn thần khác, nên đo huyết áp định kỳ ở những bệnh nhân trên 65 tuổi. Chết tim đột ngột Trong các báo cáo hậu mãi sử dụng olanzapine, hiện tượng chết tim đột ngột đã được báo cáo xảy ra ở bệnh nhân điều trị bằng olanzapine. Trong một nghiên cứu hồi cứu quan sát, nguy cơ chết tim đột ngột ở những bệnh nhân được điều trị bằng olanzapine cao khoảng gấp đôi so với những bệnh nhân không sử dụng thuốc chống loạn thần. Trong nghiên cứu này, nguy cơ của olanzapine được so sánh với nguy cơ của thuốc chống loạn thần không điển hình trong một phân tích gộp. Dùng thuốc cho trẻ em Olanzapine không được chỉ định dùng cho trẻ em và thanh thiếu niên. Các nghiên cứu ở những bệnh nhân từ 13-17 tuổi cho thấy nhiều phản ứng bất lợi, bao gồm tăng cân, thay đổi các thông số chuyển hóa và tăng nồng độ prolactin. Hậu quả lâu dài của những tác dụng này chưa được nghiên cứu và vẫn chưa được biết (xem mục Tác dụng không mong muốn và Dược lực học). Lactose Viên nén Egolanza chứa lactose. Bệnh nhân bị không dung nạp galactose do di truyền, thiếu hụt Lapp lactase hoặc kém hấp thu glucose-galactose không nên dùng thuốc này. - Thai kỳ và cho con búPhụ nữ có thai
Phụ nữ cho con bú Trong một nghiên cứu trên phụ nữ khỏe mạnh cho con bú, olanzapine được tiết vào sữa mẹ. Nồng độ olanzapine trung bình ở trẻ bú mẹ (tính theo mg/kg thể trọng) ở trạng thái ổn định bằng khoảng 1,8% nồng độ thuốc trong cơ thể mẹ (tính theo mg/kg thể trọng). Bệnh nhân không nên cho con bú khi đang sử dụng olanzapine. - Khả năng lái xe và vận hành máy mócChưa có các nghiên cứu về ảnh hưởng của thuốc đến khả năng lái xe và vận hành máy móc. Do olanzapine có thể gây buồn ngủ và chóng mặt, bệnh nhân cần thận trọng khi vận hành máy móc và xe gắn máy. - Tương tác thuốcTrẻ em
Do olanzapine được chuyển hóa bởi CYP1A2, các thuốc có thể gây cảm ứng hoặc ức chế isoenzym này có thể gây ảnh hưởng đến dược động học của olanzapine. Cảm ứng CYP1A2 Sự chuyển hóa của olanzapine có thể được cảm ứng bởi hút thuốc và carbamazepine, dẫn đến giảm nồng độ olanzapine. Thanh thải olanzapine chỉ tăng ở mức độ nhẹ hoặc vừa. Ảnh hưởng trên lâm sàng có thể rất ít nhưng cần tiến hành theo dõi lâm sàng và tăng liều olanzapine nếu cần thiết (xem mục Liều dùng và cách dùng). Ức chế CYP1A2 Fluvoxamine, một chất ức chế CYP1A2 đặc hiệu, đã được chứng minh ức chế đáng kể sự chuyển hóa của olanzapine. Sau khi sử dụng fluvoxamine, nồng độ Cmax của olanzapine tăng trung bình là 54% ở phụ nữ không hút thuốc và 77% ở nam giới hút thuốc lá. AUC của olanzapine tăng trung bình tương ứng là 52% và 108%. Nên cân nhắc dùng olanzapine với liều khởi đầu thấp hơn cho những bệnh nhân đang sử dụng fluvoxamine hoặc bất kỳ thuốc ức chế CYP1A2 khác, chẳng hạn như ciprofloxacin. Nên xem xét giảm liều olanzapine nếu sử dụng đồng thời với một thuốc ức chế CYP1A2. Giảm sinh khả dụng
Olanzapine có thể ảnh hưởng đến các thuốc khác Olanzapine có thể đối kháng với tác dụng của các chất chủ vận dopamine trực tiếp hoặc gián tiếp. Olanzapine không ức chế các isoenzyme CYP450 trong in vitro (chẳng hạn như 1A2, 2D6, 2C9, 2C19, 3A4) vì vậy Olanzapine được cho là không có tương tác đặc biệt, cũng như đã được xác minh trong các nghiên cứu in vivo, không gây ức chế chuyển hóa các thuốc sau: Thuốc chống trầm cảm ba vòng (đại diện cho con đường chuyển hóa chủ yếu qua CYP2D6), warfarin (CYP2C9), theophylline (CYP1A2), hoặc diazepam (CYP3A4 và 2C19). Olanzapine không có tương tác khi sử dụng đồng thời với lithi hoặc biperiden. Theo dõi nồng độ valproate trong khi điều trị cho thấy không cần điều chỉnh liều valproate khi dùng đồng thời với olanzapine. Tác dụng trên hệ thần kinh trung ương Cần thận trọng khi dùng thuốc cho bệnh nhân có uống rượu hoặc sử dụng các thuốc khác có thể gây ức chế hệ thần kinh trung ương. Không nên dùng đồng thời olanzapine với các thuốc điều trị Parkinson ở bệnh nhân mắc bệnh Parkinson và sa sút trí tuệ (xem mục Cảnh báo đặc biệt và thận trọng khi sử dụng). Đoạn QT Thận trọng khi dùng đồng thời olanzapine và các thuốc đã được biết gây kéo dài đoạn QT (xem mục Cảnh báo đặc biệt và thận trọng khi sử dụng). |
Hấp thu
Olanzapine được hấp thu tốt sau khi uống, đạt nồng độ đỉnh trong huyết tương trong vòng 5 đến 8 giờ. Thức ăn không ảnh hưởng đến sự hấp thu của thuốc. Chưa xác định được sinh khả dụng tuyệt đối đường uống so với đường tĩnh mạch.
Phân bố
Khoảng 93% Olanzapine gắn kết với protein huyết tương khi nồng độ thuốc trong khoảng 7 đến 1000 ng/ml. Olanzapine gắn kết chủ yếu với albumin và alpha 1-acid-glycoprotein.
Chuyển hóa
Olanzapine được chuyển hóa tại gan qua quá trình liên hợp và oxy hóa. Chất chuyển hóa chính là 10-N-glucuronide và không qua được hàng rào máu não. Các cytochrome P450CYP1A2 và P450-CYP2D6 tham gia vào việc tạo ra các chất chuyển hóa N-desmethyl và 2-hydroxymethyl. Trong các nghiên cứu trên động vật, cả 2 chất chuyển hóa này đều có hoạt tính dược lý in vivo thấp hơn olanzapine. Tác dụng dược lý chủ yếu là do olanzapine.
Thải trừ
Bệnh nhân suy thận
Ở bệnh nhân suy thận (thanh thải creatinin < 10 ml/phút) so với người không suy thận, không có sự khác nhau đáng kể về thời gian bán thải trung bình (37,7 so với 32,4 giờ) hoặc độ thanh thải (21,2 so với 25,0 L/giờ). Có khoảng 57% olanzapine được đánh dấu phóng xạ thải trừ qua nước tiểu, chủ yếu dưới dạng các chất chuyển hóa.
Người hút thuốc
Trẻ em
Thanh thiếu niên (từ 13 đến 17 tuổi): Các đặc tính dược động học của olanzapine ở thanh thiếu niên tương tự như ở người lớn. Trong các thử nghiệm lâm sàng, nồng độ olanzapine trung bình ở thanh thiếu niên cao hơn khoảng 27%. Sự khác biệt về nhân khẩu học giữa các thanh thiếu niên và người lớn bao gồm trọng lượng cơ thể trung bình thấp hơn và ít thanh thiếu niên hút thuốc hơn. Các yếu tố đó có thể góp phần làm cho nồng độ olanzapine trung bình ở thanh thiếu niên cao hơn so với người lớn.
Nhóm điều trị: Các diazepine, oxazepine và thiazepine, mã ATC: N05A H03.
Cơ chế tác dụng
An toàn và hiệu quả lâm sàng
Trẻ em
Kinh nghiệm dùng thuốc cho thanh thiếu niên (từ 13 đến 17 tuổi) chỉ giới hạn ở dữ liệu về hiệu quả điều trị ngắn hạn tâm thần phân liệt (6 tuần) và hưng cảm trong rối loạn lưỡng cực I (3 tuần) ở ít hơn 200 thanh thiếu niên. Olanzapine được sử dụng với liều linh hoạt từ 2,5 mg đến 20 mg/ngày. Trong thời gian điều trị bằng olanzapine, thanh thiếu niên tăng cân nhiều hơn đáng kể so với người lớn. Mức độ thay đổi nồng độ cholesterol tổng, LDL cholesterol, triglyceride lúc đói và prolactin (xem mục Cảnh báo đặc biệt và thận trọng khi sử dụng) ở thanh thiếu niên nhiều hơn so với người lớn. Chưa có dữ liệu về duy trì hiệu quả điều trị và dữ liệu an toàn khi điều trị dài hạn còn hạn chế (xem mục Cảnh báo đặc biệt và thận trọng khi sử dụng và mục Tác dụng không mong muốn.
Tính không tương kỵ: Không áp dụng.
Dạng bào chế: Viên nén bao phim.
Mô tả: Viên nén bao phim, hình tròn, hai mặt lồi, màu vàng, không mùi hoặc gần như không mùi. Một mặt của viên có chữ E và số 404.
Bảo quản ở nhiệt độ dưới 30°C.
60 tháng kể từ ngày sản xuất.
Egis Pharmaceuticals PLC.

Dược sĩ Đại học Nguyễn Huỳnh Hải Anh
Dược sĩ Nguyễn Huỳnh Hải Anh tốt nghiệp Khoa Dược tại trường Đại Học Quốc Tế Hồng Bàng. Có hơn 4 năm kinh nghiệm công tác trong lĩnh vực tư vấn Dược phẩm. Hiện đang là quản lí tại nhà thuốc An Khang.
Còn hàng
Mã: 105443
Thuốc này chỉ dùng theo đơn của bác sĩ. Vui lòng sao chép thông tin sản phẩm và gửi cho dược sĩ qua Zalo để được tư vấn