Mã: 109015
| Toàn bộ thông tin dưới đây được Dược sĩ biên soạn lại dựa trên tờ Hướng dẫn sử dụng. Thông tin không thay đổi chỉ định dạng lại cho dễ đọc. |
Hoạt chất của Ranexicor là ranolazin. Mỗi viên nén chứa 375 mg.
Các thành phần khác là: hypromellose, magnesi stearat, methacrylic acid-ethyl acrylate copolymer, microcrystalline cellulose, natri hydroxid, titanium dioxid và sáp carnauba.
Lớp bao viên còn có thể chứa: macrogol 400, polysorbate 80, Blue #2/Indigo Carmine Aluminium Lake (E132).
Ranexicor được chỉ định để phối hợp điều trị triệu chứng bệnh đau thắt ngực ổn định ở người lớn mà không kiểm soát được hoặc không dung nạp được với các thuốc điều trị đau thắt ngực đầu aty (như chẹn beta và/hoặc chẹn kênh calci).
Cần đưa cho bệnh nhân tờ hướng dẫn sử dụng Ranexicor, Thẻ cảnh báo dành cho bệnh nhân và hướng dẫn bệnh nhân trình Thẻ cảnh báo của mình và đơn thuốc cho bác sĩ trong mỗi lần khám bệnh.
Nuốt nguyên viên nén Ranexicor mà không nghiền, bẻ hoặc nhai viên. Có thể uống thuốc trong hay không trong bữa ăn.
Ranexicor viên nén giải phóng kéo dài có các hàm lượng 375 mg, 50 mg, và 750 mg.
Người lớn: Liều khuyến cáo ban đầu của Ranexicor là 375mg ngày 2 lần. Sau 2-4 tuần, nên tăng liều lên 50mg ngày 2 lần tùy theo đáp ứng của bệnh nhân, sau đó có thể tăng đến liều khuyến cáo tối đa là 750mg ngày 2 lần.
Nếu bệnh nhân gặp những biến cố bất lợi liên quan đến điều trị (như chóng mặt, buồn nôn hoặc nôn) thì giảm liều Ranexicor xuống còn 500mg hoặc 375mg ngày 2 lần. Nếu các triệu chứng không cải thiện sau khi giảm liều thì nên dừng thuốc.
Điều trị đồng thời với các thuốc gây ức chế CYP3A4 và P-glycoprotein (P-gp): Khuyến cáo thận trọng khi tăng liều đối với những bệnh nhân đang điều trị với các thuốc gây ức chế CYP3A4 mức độ trung bình (như diltiazem, fluconazole, erythromycin) hoặc thuốc gây ức chế P-gp (như verapamil, ciclosporin).
Chống chỉ định dùng đồng thời với các thuốc ức chế mạnh CYP3A4.
Suy thận: Khuyến cáo thận trọng khi tăng liều đối với bệnh nhân suy thận nhẹ đến trung bình (độ thanh thải creatinin 30-80 ml/phút). Chống chỉ định Ranexicor đối với những bệnh nhân suy thận nặng (độ thanh thải creatinin <03 ml/phút).
Suy gan: Khuyến cáo thận trọng khi tăng liều đối với những bệnh nhân suy gan nhẹ. Chống chỉ định Ranexicor trên những bệnh nhân suy gan mức độ trung bình hoặc nặng.
Người cao tuổi: Thận trọng khi tăng liều trên bệnh nhân cao tuổi. Người cao tuổi có thể tăng phơi nhiễm với ranolazin do chức năng thận giảm theo tuổi tác. Tỷ lệ gặp biến cố bất lợi ở người cao tuổi là cao hơn.
Trọng lượng cơ thể thấp: Tỷ lệ gặp biến cố bất lợi ở người có trọng lượng thấp (≤ 60 kg) là cao hơn. Thận trọng khi tăng liều trên bệnh nhân có trọng lượng thấp.
Suy tim sung huyết (congestive heart failure - CHF): Thận trọng khi tăng liều trên những bệnh nhân suy tim sung huyết mức độ trung bình đến nặng (độ I - VI theo NYHA).
Trẻ em: An toàn và hiệu quả của Ranexicor ở trẻ dưới 18 tuổi hiện chưa được chứng minh. Không có dữ liệu.
Trong một nghiên cứu về khả năng dung nạp thuốc ở liều cao đường uống trên bệnh nhân đau thắt ngực, tần suất gặp các triệu chứng như chóng mặt, buồn nôn và nôn tăng lên phụ thuộc liều. Bên cạnh các triệu chứng này, còn ghi nhận chứng song thị, hôn mê, bất tỉnh trong 1 nghiên cứu khi dùng quá liều đường tĩnh mạch trên người tình nguyện khỏe mạnh. Trong trường hợp quá liều, cần giám sát chặt chẽ bệnh nhân đồng thời điều trị triệu chứng và điều trị hỗ trợ.
Khoảng 62% ranolazin gắn vào protein huyết tương, nên không rõ thuốc có thanh thải hoàn toàn qua lọc máu hay không.
Mẫn cảm với hoạt chất hoặc bất cứ thành phần tá dược nào của thuốc.
Suy thận nặng (độ thanh thải creatinin < 30 ml/phút).
Suy gan mức độ trung bình hoặc nặng.
Dùng đồng thời với các chất ức chế CYP3A4 mạnh (như itraconazol, ketoconazol, voriconazol, posaconazol, thuốc ức chế protease của HIV, clarithromycin, telithromycin, nefazodon).
Dùng đồng thời các thuốc chống loạn nhịp nhóm Ia (như quinidin) hoặc nhóm I trừ amiodaron (như dofetilid, sotalol).
Những tác dụng không mong muốn gặp trên bệnh nhân sử dụng Ranexicor thường có mức độ từ nhẹ đến trung bình và thường xuất hiện trong 2 tuần đầu điều trị. Những tác dụng này được ghi nhận trong Pha 3- nghiên cứu trên lâm sàng trên tổng số 1030 bệnh nhân đau thắt ngực được điều trị bằng Ranexicor.
Những biến cố bất lợi được cho là có liên quan đến thuốc được liệt kê dưới đây phân loại theo hệ cơ quan và tần suất xuất hiện. Các mức độ tần suất bao gồm rất thường gặp (≥ 1/10), thường gặp (< 1/100<-1/10), ít gặp (<1/1,000-<1/100), hiếm gặp (≥ 1/10,000<-1/1,000), và rất hiếm gặp (< 1/10,000).
Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng:
Ít gặp: chán ăn, ăn mất ngon, mất nước.
Hiếm gặp: giảm natri máu.
Rối loạn về tâm thần:
Ít gặp: lo âu, mất ngủ, trạng thái lú lẫn, ảo giác.
Hiếm gặp: mất phương hướng.
Rối loạn thần kinh trung ương:
Thường gặp: chóng mặt, đau đầu.
Ít gặp: hôn mê, ngất, giảm xúc giác, ngủ gà, run rẩy, chóng mặt tư thế, dị cảm.
Hiếm gặp: giảm trí nhớ, giảm ý thức, mất ý thức, bất thường phối hợp động tác, rối loạn dáng đi, loạn khứu giác.
Rối loạn thị giác:
Ít gặp: mờ mắt, loạn thị, song thị.
Rối loạn thính giác và mê lộ:
Ít gặp: chóng mặt, ù tai.
Hiếm gặp: giảm thính giác.
Rối loạn hệ mạch:
Ít gặp: nóng bừng mặt, hạ huyết áp.
Hiếm gặp: lạnh ngoại vi, hạ huyết áp tư thế.
Rối loạn hệ hô hấp, ngực và trung thất:
Ít gặp: khó thở, ho, chảy máu cam.
Hiếm gặp: nghẹn cổ họng.
Rối loạn hệ tiêu hóa:
Thường gặp: táo bón, nôn, buồn nôn.
Ít gặp: đau bụng, khô miệng, khó tiêu, đầy hơi, khó chịu. Hiếm gặp: viêm tụy, viêm trợt tá tràng, giảm vị giác.
Rối loạn da và mô dưới da:
Ít gặp: ngứa, tăng tiết mồ hôi.
Hiếm gặp: Phù mạch, viêm da dị ứng, mày đay, toát mồ hôi, ban da.
Rối loạn cơ xương và mô liên kết:
Ít gặp: đau ở chi, chuột rút, sưng khớp.
Hiếm gặp: yếu cơ.
Rối loạn trên thận và tiết niệu:
Ít gặp: tiểu khó, tiểu ra máu, sắc niệu.
Hiếm gặp: suy thận cấp, bí tiểu.
Rối loạn hệ sinh sản và vú:
Hiếm gặp: rối loạn cương dương.
Rối loạn chung và vị trí dùng thuốc:
Thường gặp: suy nhược.
Ít gặp: mệt mỏi, phù nề ngoại vi.
Còn nghiên cứu
Ít gặp: creatinin trong máu tăng, ure máu tăng, khoảng QT kéo dài, số lượng tiểu cầu hoặc bạch cầu tăng, trọng lượng cơ thể giảm.
Hiếm gặp: men gan tăng.
Các biến cố bất lợi kể trên nhìn chung cũng tương tự trong nghiên cứu MERLIN-TIMI. Trong nghiên cứu dài hạn này, suy thận cấp cũng được báo cáo với tần suất dưới %1 ở nhóm bệnh nhân dùng placebo và nhóm dùng ranolazin. Việc đánh giá trên những bệnh nhân được cho là có nguy cơ cao gặp biến ốc bất lợi khi điều trị bằng các thuốc chống co thắt khác, như bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường, suy tim độ I và II, bệnh tắc nghẽn đường thở, cho thấy những tình trạng bệnh này không có mối liên hệ có ý nghĩa lâm sàng với tần suất xuất hiện các biến cố bất lợi liên quan đến sử dụng ranolazin.
Người cao tuổi, suy thận và trọng lượng cơ thể thấp:
Nhìn chung, các biến cố bất lợi thường xảy ra hơn ở bệnh nhân cao tuổi và bệnh nhân suy thận; nhưng loại biến cố trong từng phân nhóm là tương tự như quần thể chung. Trong số những biến ốc xảy ra thường xuyên nhất, những biến ốc sau đây xảy ra thường xuyên hơn khi dùng Ranexicor (tần số đã hiệu chỉnh theo placebo) trên người cao tuổi (≥ 57 tuổi) so với người trẻ (< 57 tuổi): táo bón (8% so với 5%), buồn nôn (6% so với 3%), hạ huyết áp (5% so với 1%) và nôn (4% so với 1%).
Trên những bệnh nhân suy thận nhẹ đến trung bình (độ thanh thải creatinin ≥ 30-80 ml/phút), so với bệnh nhân có chức năng thận bình thường (độ thanh thải creatinin> 80 ml/phút), các biến cố được báo cáo thường xuyên nhất với tần suất đã hiệu chỉnh theo placebo gồm có: táo bón (8% so với 4%), chóng mặt (7% so với 5%), và nôn (4% so với 2%).
Nhìn chung, loại và tần suất của các biến cố có hại được ghi nhận trên những bệnh nhân có trọng lượng cơ thể thấp <( 60kg) tương tự trên bệnh nhân có trọng lượng lớn hơn; nhưng tần suất hiệu chỉnh theo placebo của những biến cố thường gặp sau lại cao hơn ở bệnh nhân có trọng lượng thấp so với bệnh nhân trọng lượng lớn hơn: buồn nôn (14% os với 2%,) nôn (6% os với 1%) và hạ huyết áp (4% so với 2%).
Chỉ số cận lâm sàng:
Sự tăng có hồi phục nồng độ creatinin trong huyết thanh, tăng nhẹ và không có ý nghĩa lâm sàng, đã quan sát được trên nhóm người khỏe mạnh và bệnh nhân được điều trị với Ranexicor. Không có độc tính trên thận liên quan đến các chỉ số này. Một nghiên cứu về chức năng thận trên người tình nguyện khỏe mạnh cho thấy có sự giảm độ thanh thải creatinin mà không thay đổi tốc độ lọc cầu thận cùng với ức chế bài tiết creatinin của ống thận.
6. Lưu ý |
- Thận trọng khi sử dụngThận trọng khi kê đơn hoặc tăng liều ranolazin trên những bệnh nhân tăng phơi nhiễm với thuốc do:
Nếu bệnh nhân có kèm các yếu tố trên thì khả năng phơi nhiễm với thuốc tăng lên. Những tác dụng có hại phụ thuộc liều có khả năng xảy ra. Khi sử dụng Ranexicor trên những bệnh nhân có kèm một số yếu tố trên thì cần thường xuyên giám sát các biến cố bất lợi, nếu cần thì giảm liều hoặc dừng thuốc. Nguy cơ tăng phơi nhiễm với thuốc dẫn đến biến cố bất lợi cao hơn ở nhóm bệnh nhân thiếu hoạt tính CYP2D6 (nhóm chuyển hóa kém) so với nhóm bệnh nhân CYP2D6 có đầy đủ khả năng chuyển hóa (nhóm chuyển hóa mạnh). Những thận trọng nêu trên là dựa vào nguy cơ ở nhóm bệnh nhân chuyển hóa kém CYP2D6. Cần thận trọng khi không rõ tình trạng chuyển hóa CYP2D6 trong khi không cần quá thận trọng đối với những bệnh nhân chuyển hóa mạnh CYP2D6. Nếu bệnh nhân được xác định hoặc biết trước là chuyển hóa mạnh CYP2D6 (như xác định kiểu gen) thì cần thận trọng khi sử dụng Ranexicor nếu bệnh nhân có một vài yếu tố nguy cơ kể trên. Kéo dài khoảng QT: Một phân tích dựa trên dữ liệu gộp của cả quần thể bệnh nhân và người tình nguyện khỏe mạnh cho thấy độ dốc của đường biểu diễn mối liên hệ giữa nồng độ thuốc trong huyết tương và QTc ước tính là 2,4 mili giây/1000 ng/ml, tương đương QTc tăng hơn từ 2 đến 7 mili giây trên khoảng nồng độ ranolazin khi điều trị với liều 50 đến 10mg ngày 2 lần. Do đó, cần thận trọng khi dùng thuốc trên bệnh nhân có tiền sử bẩm sinh hoặc tiền sử gia đình mắc hội chứng QT kéo dài, bệnh nhân đã từng bị QT kéo dài mắc phải và bệnh nhân được điều trị bằng các thuốc ảnh hưởng đến khoảng QTc. Tương tác thuốc - thuốc: Dùng đồng thời ranolazin với các thuốc gây cảm ứng CYP3A4 có khả năng dẫn đến giảm hiệu quả điều trị. Không nên dùng Ranexicor trên những bệnh nhân trị liệu với các thuốc gây cảm ứng CYP3A4 (như rifampicin, phenytoin, phenobarbital, carbamazepin, S.t John's Wort). Suy thận: Chức năng thận giảm theo tuổi nên điều quan trọng là kiểm tra chức năng thận đều đặn trong quá trình điều trị với ranolazin. - Thời kỳ mang thai và cho con búCó thai: Chưa đủ thông tin về sử dụng ranolazin trên phụ nữ có thai. Dữ liệu nghiên cứu trên động vật chưa đủ để kết luận ảnh hưởng của thuốc lên quá trình mang thai và sự phát triển của thai. Chưa rõ nguy cơ trên người. Không nên sử dụng Ranexicor trong thời gian mang thai trừ khi thật sự cần thiết. Cho con bú: Chưa rõ liệu ranolazin có được bài tiết vào sữa mẹ không. Quá trình bài tiết ranolazin vào sữa cũng chưa được nghiên cứu trên động vật. Không nên sử dụng Ranexicor trong thời gian cho con bú. Khả năng sinh sản: Những nghiên cứu trên động vật cho thấy thuốc không gây ảnh hưởng có hại lên khả năng sinh sản. Chưa rõ ảnh hưởng của thuốc lên khả năng sinh sản ở người. - Khả năng lái xe và vận hành máy mócChưa có nghiên cứu về ảnh hưởng của Ranexicor lên khả năng lái xe và vận hành máy móc. Ranexicor có thể gây ra chóng mặt, nhìn mờ, song thị, trạng thái lú lẫn, bất thường khi phối hợp động tác, ảo giác nên có thể ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy móc. - Tương tác thuốcẢnh hưởng của các thuốc khác đến ranolazin Các chất ức chế CYP3A4 hoặc P-gp: Ranolazin là cơ chất của cytochrome CYP3A4. Các chất ức chế CYP3A4 làm tăng nồng độ ranolazin trong huyết tương. Khả năng xuất hiện các biến cố bất lợi liên quan đến liều dùng (như buồn nôn, chóng mặt) cũng tăng cùng với sự tăng nồng độ thuốc trong huyết tương. Trong thời gian điều trị với ranolazin mà dùng ketoconazol 20 mg ngày 2 lần thì làm tăng AUC của ranolazin 3,0-3,9 lần. Chống chỉ định phối hợp ranolazin với các thuốc ức chế mạnh CYP3A4 (như itraconazol, ketoconazol, voriconazol, posaconazol, thuốc ức chế protease HIV, clarithromycin, telithromycin, nefazodon). Nước bưởi ép cũng là một chất ức chế mạnh CYP3A4. Diltiazem (180 - 360 mg ngày 1 lần), một thuốc cứ chế mạnh CYP3A4, gây tác dụng phụ thuộc liều làm tăng nồng độ trung bình ở trạng thái ổn định của ranolazin từ 15, đến 24, lần. Khuyến cáo thận trọng khi tăng liều Ranexicor trên những bệnh nhân đang được điều trị bằng diltiazem và các thuốc cứ chế CYP3A4 mức độ trung bình (như erythromycin, fluconazole). Có thể cần phải giảm liều Ranexicor. Ranolazin là một cơ chất của P-gp. Các chất ức chế P-gp (như ciclosporin, verapamil) làm tăng nồng độ trong huyết tương của ranolazin. Verapamil (120 mg ngày 3 lần) làm tăng nồng độ ở trạng thái ổn định của ranolazin 2 lần. Khuyến cáo thận trọng khi tăng liều Ranexicor trên bệnh nhân đang dùng thuốc gây ức chế P-gp. Có thể cần phải giảm liều Ranexico. Các chất gây cảm ứng CYP3A4: Rifampicin (600 mg ngày 1 lần) làm giảm nồng độ ở trạng thái ổn định của ranolazin khoảng 95%. Nên tránh bắt đầu trị liệu với Ranexicor khi đang dùng các thuốc gây cảm ứng CYP3A4 (như rifampicin, phenytoin, phenobarbital, carbamazepin, S.t John's Wort). Các chất ức chế CYP2D6: Ranolazin được chuyển hóa một phần nhờ CYP2D6; do đó các chất ức chế enzym này có thể làm tăng nồng độ ranolazin trong huyết tương. Paroxetine là một chất ức chế mạnh CYP2D6, ở liều 20 mg ngày 1 lần, thuốc làm tăng nồng độ ở trạng thái ổn định của ranolazin 10 mg ngày 2 lần trung bình 1,2 lần, nhưng không cần hiệu chỉnh liều. Khi dùng ranolazin 50 mg ngày 2 lần phối hợp một chất ức chế mạnh CYP2D6 thì có thể làm tăng AUC của ranolazin khoảng 62%. Ảnh hưởng của ranolazin lên các thuốc khác Ranolazine là một chất ức chế vừa đến mạnh P-gp và ức chế nhẹ CYP3A4, và có thể làm tăng nồng độ trong huyết thanh các cơ chất của P-gp hay CYP3A4. Phân bố ở mô của các thuốc được vận chuyển bằng P-gp có thể tăng lên. Có thể cần hiệu chỉnh liều các thuốc nhạy cảm với CYP3A4 (như simvastatin, lovastatin) và các thuốc chuyển hóa nhờ CYP3A4 mà có khoảng điều trị hẹp (như ciclosporin, tacrolimus, sirolimus, everolimus) vì RANEXICOR có thể làm tăng nồng độ trong huyết tương của những thuốc này. Có đủ dữ liệu chứng minh rằng ranolazin là chất ức chế nhẹ CYP2D6. Ranexicor 750 mg ngày 2 lần làm tăng nồng độ trong huyết tương của metoprolol lên 1,8 lần. Do đó có thể làm tăng phơi nhiễm với metoprolol hay các thuốc khác chuyển hóa qua CYP2D6 (như propafenon và flecinid, hoặc mức độ chuyển hóa tí hơn như các thuốc chống trầm cảm 3 vòng và thuốc chống loạn thần) khi các thuốc này dùng đồng thời với Ranexicor, và có thể phải giảm liều các thuốc này. Khả năng ức chế CYP2B6 chưa được đánh giá. Cần thận trọng khi dùng đồng thời với các thuốc chuyển hóa qua CYP 2B6 (như bupropion, efavirenz, cyclophosphamide). Digoxin: Đã có báo cáo nồng độ digoxin trong huyết thanh tăng trung bình tăng 1,5 lần khi dùng đồng thời với Ranexicor. Do đó nên giám sát nồng độ digoxin khi bắt đầu và kết thúc điều trị với Ranexicor. Simvastatin: Chuyển hóa và thải trừ của simvastatin phụ thuộc nhiều vào CYP3A4. Sử dụng Ranexicor 1000 mg ngày 2 lần làm tăng nồng độ trong huyết tương của simvastatin lacton, simvastatin acid khoảng 2 lần. Tác dụng gây tiêu cơ vân có liên quan đến liều cao simvastatin và đã có báo cáo tiêu cơ vân ở bệnh nhân điều trị bằng Ranexicor và simvastatin ở thời kỳ hậu mãi. Liều giới hạn của simvastatin là 20 mg ngày 1 lần ở bệnh nhân dùng Ranexicor bất kỳ liều nào. Atorvastatin: Sử dụng Ranexicor 10 mg ngày 2 lần làm tăng Cmax và AUC của atorvastatin 80 mg ngày 1lần tương ứng khoảng 1,4 và 1v3 lần, và làm giảm Cmax và AUC của chất chuyển hóa của atorvastatin 35%. Nên xem xét liều giới hạn của atorvastatin và giám sát trên lâm sàng khi đang dùng Ranexicor. Tacrolimus, ciclosporin, sirolimus, everolimus: Đã có báo cáo về tăng nồng độ trong huyết tương của tacrolimus, một cơ chất của CYP34 trên bệnh nhân sau khi sử dụng ranolazin. Khuyến cáo giám sát nồng độ tacrolimus trong máu khi điều trị đồng thời với Ranexicor và tacrolimus đồng thời hiệu chỉnh liều tacrolimus cho phù hợp. Cũng khuyến cáo tương tự đối với những thuốc chuyển hóa qua CYP3A4 có khoảng điều trị hẹp (như ciclosporin, sirolimus, everolimus). Thuốc được vận chuyển qua kênh vận chuyển cation hữu cơ (Organic Cation Transporter-2: OCT2): Nồng độ trong huyết tương của metformin (1000 mg ngày 2lần) tăng 1,4-1,8 lần ở người mắc bệnh đái tháo đường týp 2 khi dùng chung RANEXICOR 50 mg và 1000 mg ngày 2 lần. Các thuốc được vận chuyển qua OTC2 khác, như pindolol và varenicline có thể cũng chịu ảnh hưởng tương tự. Theo lý thuyết, dùng đồng thời ranolazin với các thuốc được biết là gây kéo dài quảng QTc thì có thể có làm tăng nguy cơ gặp tương tác dược lực học và tăng nguy cơ gây loạn nhịp thất. Ví dụ về các thuốc này như một số thuốc kháng histamine (terfenadin, astemizol, mizolastin), một số thuốc chống loạn nhịp (quinidin, disopyramid, procainamid), erythromycin, và thuốc chồng trầm cảm 3 vòng (imipramin, doxepin, amitriptylin). |
Nhóm dược lý: Thuốc tim mạch khác, mã ATC: CO1EB18.
Cơ chế tác dụng:
Cơ chế tác dụng của ranolazin phần lớn chưa rõ. Ranolazin có thể có tác dụng chống đau thắt ngực do ức chế dòng natri chậm trong tế bào cơ tim. Điều này làm giảm tích lũy natri nội bào và do đó làm giảm quá tải calci nội bào. Nhờ tác dụng làm giảm dòng natri chậm, ranolazine làm giảm sự mất cân bằng ion nội bào trong khi thiếu máu cục bộ. Việc làm giảm quá tải calci nội bào giúp cải thiện tình trạng thư giãn cơ tim và do đó làm giảm độ cứng của thất trái ở thì tâm trương. Bằng chứng lâm sàng về tác dụng ức chế dòng natri chậm của ranolazine là sự rút ngắn đáng kể khoảng QTc và cải thiện thư giãn thì tâm trương trong một nghiên cứu mở nhãn trên 5 bệnh nhân mắc hội chứng QT kéo dài (LQT3 có đột biến gen SCNSA AKPQ).
Những tác dụng này không phụ thuộc vào sự thay đổi nhịp tim, huyết áp hay sự giãn mạch.
Tác dụng dược lực:
Ảnh hưởng trên huyết động: Độ giảm tối thiểu nhịp tim trung bình <( 2 nhịp/phút) và huyết áp tâm thu trung bình (< 3m Hg) được ghi nhận trên bệnh nhân điều trị bằng ranolazin đơn độc hoặc phối hợp với các thuốc chống đau thắt ngực khác trong các nghiên cứu có đối chứng.
Ảnh hưởng trên điện tâm đồ: tăng khoảng QTc liên quan đến liều và nồng độ thuốc trong huyết tương (khoảng 6 mili giây ở liều 10 mg ngày 2 lần), sự giảm biên độ sóng T được ghi nhận trên bệnh nhân điều trị với Ranexicor. Ảnh hưởng này của ranolazin trên điện tâm đồ được cho là kết quả của sự ức chế dòng kali chỉnh lưu nhanh, làm kéo dài điện thế hoạt động tâm thất, và sự ức chế dòng natri chậm làm rút ngắn điện thế hoạt động tâm thất. Một phân tích dựa trên dữ liệu gộp của 1308 bệnh nhân và người tình nguyện khỏe mạnh cho thấy mức tăng QTc trung bình os với ban đầu là 24, mili giây cho 1000ng/ml nồng độ ranolazin huyết tương. Giá trị này không đổi so với dữ liệu từ các nghiên cứu lâm sàng then chốt, sự thay đổi trung bình của QTcF (Fridericia's correction) os với ban đầu sau khi dùng các mức liều 50 mg và 750 mg 2 lần mỗi ngày lần lượt là 1,9 và 4,9 mili giây. Độ dốc cao hơn trên những bệnh nhân suy giảm chức năng gan.
Trong một nghiên cứu lớn (MERLIN-TIMI 36) trên 6560 bệnh nhân có hội chứng mạch vành cấp không ST chênh lên (UA/NSTEMI ACS), không có sự khác biệt nào giữa Ranexicor và placebo về nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân (RR ranolazin: placebo àl 0,99), đột tử do bệnh tim (RR ranolazin: placebo là 0,87), tần suất gặp loạn nhịp tim có triệu chứng (3,0% os với 3,1%).
Không phát hiện tác dụng gây loạn nhịp tim trên 3126 bệnh nhân trị liệu với Ranexicor theo giám sát Holter 7 ngày trong nghiên cứu MERLIN-TIMI 36. Tần suất xuất hiện loạn nhịp tim trên bệnh nhân trị liệu với Ranexicor (80%) thấp hơn có ý nghĩa thống kê os với nhóm placebo (87%), bao gồm cả nhịp nhanh thất ≥ 8 nhịp (5% so với 8%).
An toàn và hiệu quả lâm sàng:
Các nghiên cứu lâm sàng đã chứng minh hiệu quả và an toàn của Ranexicor trong điều trị đau thắt ngực mạn tính, cả khi dùng đơn độc cũng như khi hiệu quả của các thuốc chống đau thắt khác không tối ưu.
Trong nghiên cứu then chốt CARISA, Ranexicor được phối hợp điều trị với atenolol 50 mg ngày 1 lần, amolodipine 5mg ngày 1 lần hoặc diltiazem 180 mg ngày 1 lần. 823 bệnh nhân (23% là nữ) được phân ngẫu nhiên điều trị trong 21 tuần với Ranexicor 750 mg ngày 2 lần, 10 mg ngày 2 lần hoặc placebo. Ranexicor đã được chứng minh là có hiệu quả tốt hơn placebo trong việc kéo dài thời gian chịu được bài tập thể dục tối đa trong 21 tuần với cả 2 chế độ liều khi sử dụng là phác đồ phối hợp. Tuy nhiên không có sự khác biệt về thời gian chịu được bài tập thể dục giữa 2 chế độ liều (24 giây so với placebo; p<0,03).
Ranexicor làm giảm đáng kể số lượng cơn đau thắt ngực trong tuần và việc sử dụng nitroglycerin tác dụng ngắn os với placebo. Sự dung nạp ranolazin không tăng trong quá trình điều trị và không ghi nhận sự tăng trở lại các cơn đau thắt khi dừng thuốc đột ngột. Sự cải thiện trong thời gian tập luyện ở nữ bằng khoảng 3% sự cải thiện ở nam khi dùng liều 10 mg ngày 2 lần. Tuy nhiên, ở cả nam và nữ đều giảm tần suất gặp cơn đau thắt và giảm sử dụng nitroglycerin tương tự nhau. Hiệu quả và tác dụng có hại phụ thuộc liều dùng với mức liều 750 mg và 1000 mg ngày 2 lần, nên liều tối đa khuyến cáo là 750 mg ngày 2 lần.
Trong nghiên cứu thứ 2, ERICA, Ranexicor được phối hợp điều trị với amlodipin 10 mg ngày 1 lần (liều tối đa trên nhãn). 565 bệnh nhân được phân ngẫu nhiên để dùng liều ban đầu Ranexicor 50 mg ngày 2 lần hoặc placebo trong 1 tuần, sau đó điều trị trong 6tuần với Ranexicor 10 mg ngày 2 lần hoặc placebo, cùng phối hợp điều trị với amlodipin 01 mg ngày 1 lần. Ngoài ra, 45% số bệnh nhân trong quần thể nghiên cứu còn sử dụng nitrate tác dụng kéo dài. Kết quả cho thấy Ranexicor làm giảm đáng kể số lượng cơn đau thắt trong tuần (p=0,028) và việc sử dụng nitroglycerin tác dụng ngắn (p=0,014) os với placebo. Cả số lượng cơn đau thắt ngực trung bình và số viên nitroglycerin sử dụng đều giảm đi 1 đơn vị trong 1 tuần.
Trong nghiên cứu then chốt để xác định liều, MARISA, ranolazin được sử dụng đơn độc. 191 bệnh nhân được phân ngẫu nhiên Ranexicor 50 mg ngày 2 lần, 10 mg ngày 2 lần, 150 mg ngày 2 lần hoặc placebo trong 1 tuần trong một thiết kế cắt ngang. Ranexicor hiệu quả hơn hẳn placebo trong việc kéo dài thời gian chịu được bài tập thể dục, giảm thời gian cơn đau thắt và giảm thời gian làm rút ngắn 1m khoảng ST tất cả mức liều thử trong mối liên hệ giữa đáp ứng và liều dùng. Sự cải thiện thời gian tập thể dục là có ý nghĩa thống kê so với placebo ở cả 3 mức liều ranolazin, từ 42 giây ở liều 50 mg ngày 2 lần đến 64 giây ở liều 150 mg ngày 2 lần, cho thấy đáp ứng có liên quan đến liều. Trong nghiên cứu này, thời gian chịu đựng bài tập là dài nhất ở nhóm 150mg ngày 2 lần; tuy nhiên, sự tăng tác dụng phụ thì không cân đối, và mức liều 1500 mg không được nghiên cứu sâu hơn.
Trong một nghiên cứu lớn (MERLIN-TIMI 36) trên 6560 bệnh nhân UA/NSTEMI ACS, không có sự khác biệt nào giữa ranolazin và placebo về nguy cơ gặp biến cố gây chết (RR ranolazin: placebo là 0,99), đột tử do bệnh tim (RR ranolazin: placebo là 0,87), hay tần suất gặp chứng loạn nhịp có triệu chứng (3,0% so với 3,1%) khi dùng phối hợp trong phác đồ chuẩn (gồm có chẹn beta, chẹn kênh calci, các nitrate, thuốc chống kết tập tiểu cầu, thuốc hạ lipid máu và thuốc ức chế ACE). Khoảng 1/2 số bệnh nhân trong nghiên cứu MERLIN-TIMI 36 có tiền sử đau thắt ngực. Kết quả cho thấy thời gian chịu đựng bài tập thể dục trong nhóm dùng ranolazin dài hơn 31 giây so với nhóm placebo (p=0,002). Sử dụng phương pháp "The Seattle Angina Questionnaire" cho thấy tác dụng đáng kể của thuốc trên một vài phương diện, bao gồm cả tần suất cơn đau thắt ngực so với nhóm placebo (p<0,001)
Một tỷ lệ nhỏ người không phải da trắng được đưa vào các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng; nên không phải kết luận nào từ các nghiên cứu này cũng có thể rút ra những vấn đề liên quan đến hiệu quả và an toàn của thuốc trên người không phải da trắng.
Sau khi uống Ranexicor, nồng độ đỉnh của thuốc trong huyết tương thường được đo ở thời điểm giữa 2 và 6 giờ. Nồng độ ổn định thường đạt được trong vòng 3 ngày khi dùng chế độ liều ngày 2 lần.
Hấp thu
Sinh khả dụng tuyệt đối trung bình của ranolazin khi uống viên nén ranolazin dạng giải phóng tức thì dao động trong khoảng 35-50%, dao động lớn giữa các cá thể. Phơi nhiễm Ranexicor tăng tương ứng với liều dùng. AUC của thuốc ở trạng thái ổn định tăng 2,5-3 lần khi liều tăng từ 50 mg đến 10 mg ngày 2 lần. Trong một nghiên cứu về dược động học của thuốc trên người tình nguyện khỏe mạnh, Cmax ở trạng thái ổn định trung bình xấp xỉ 170 (SD 1040) ng/ml, còn AUC0-12 ở trạng thái ổn định trung bình là 13,700 (SD 8290) ng xh/ml khi dùng liều 50 mg ngày 2 lần. Thức ăn không ảnh hưởng đến tốc độ và mức độ hấp thu của ranolazin.
Phân bố
Khoảng 62% ranolazin liên kết với protein huyết tương, chủ yếu là alpha-1 acid glycoprotein, thuốc có ái lực yếu với albumin. Thể tích phân bố ở trạng thái ổn định (Vs) là khoảng 180 lít.
Thải trừ
Ranolazin được thải trừ chủ yếu qua quá trình chuyển hóa. Dưới 5% liều được bài tiết ở dạng không đổi vào phân và nước tiểu. Sau khi uống một điều đơn 50 mg ['*C]-ranolazin, trên người khỏe mạnh, 73% chất gắn carbon phóng xạ được tìm thấy trong nước tiểu và 25% tìm thấy trong phân.
Độ thanh thải của ranolazin phụ thuộc vào liều, giảm khi tăng liều. Thời gian bán thải khoảng 23- giờ sau khi dùng đường tĩnh mạch. Nửa đời thải trừ ở trạng thái ổn định sau khi uống ranolazine là khoảng 7 giờ, là do quá trình thải trừ bị giới hạn bởi tốc độ hấp thu.
Biến đổi sinh học
Ranolazin trải qua quá trình chuyển hóa nhanh và mạnh. Trên người lớn trẻ khỏe mạnh, tìm được khoảng 13% ranolazin phóng xạ trong huyết tương sau khi uống liều đơn 500 mg ['*C]-ranolazin. Một số lượng lớn các chất chuyển hóa đã được phát hiện trong huyết tương người (47 chất chuyển hóa), trong nước tiểu >( 10 chất chuyển hóa), và phân (25 chất chuyển hóa). Đã xác định được 41 con đường thải trừ chính trong đó khử methyl gốc O (O-demethylation) và khử alkyl hóa gốc N(N-dealkylation) là quan trọng nhất. Các nghiên cứu In vitro sử dụng microsome gan người cho thấy ranolazin được chuyển hóa chủ yếu qua CYP3A4, và cả CYP2D6. Khi dùng liều 50 mg ngày 2 lần, ở những người thiếu hoạt tính CYP2D6 (chuyển hóa kém - poor metabolizers, PM) thì AUC cao hơn 62% so với những người có đầy đủ hoạt tính chuyển hóa CYP2D6 (chuyển hóa mạnh, EM). Sự khác biệt tương ứng ở mức liều 10 mg ngày 2 lần là 25%.
Đối tượng đặc biệt
Ảnh hưởng của các yếu tố khác nhau lên dược động học của ranolazin được đánh giá trong một nghiên cứu về dược động học quần thể tiến hành trên 928 bệnh nhân đau thắt ngực và người khỏe mạnh.
Ảnh hưởng giới tính: Giới tính không có ảnh hưởng nào liên quan đến các thông số dược động học.
Người cao tuổi: Yếu tố tuổi đơn độc không có ảnh hưởng lên các thông số dược động học. Tuy nhiên người cao tuổi có thể tăng phơi nhiễm với ranolazin do chức năng thận giảm dần theo tuổi.
Trọng lượng cơ thể: So với những người cân nặng 70 kg, những người cân nặng 40 kg có khả năng phơi nhiễm với thuốc ước tính cao hơn 14, lần.
Suy tim sung huyết (CHF): Bệnh nhân suy tim sung huyết độ I và VI theo NYHA ước tính có nồng độ trong huyết tương cao hơn 13, lần.
Suy thận: Trong một nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của chức năng thận lên dược động học của ranolazin, AUC của ranolazin trung bình cao hơn 1,7-2 lần ở người suy thận nhẹ, trung bình và nặng os với người có chức năng thận bình thường. Khoảng dao động AUC lớn giữa các bệnh nhân suy thận. AUC của các chất chuyển hóa tăng tương ứng khi chức năng thận giảm. AUC của một chất chuyển hóa của ranolazin có hoạt tính dược lý tăng 5 lần trên bệnh nhân suy thận nặng.
Trong phân tích dược động học quần thể này, phơi nhiễm với ranolazin ước tính tăng 1,2 lần trên những người bị suy thận trung bình (độ thanh thải creatinin 40 ml/phút). Trên những người suy thận nặng (độ thanh thải creatinin 10-30ml/min),ước tính phơi nhiễm với ranolazin tăng 1,3- 1,8 lần.
Ảnh hưởng của quá trình lọc máu lên dược động học của ranolazin hiện chưa được đánh giá.
Suy gan: Dược động học của ranolazin được đánh giá trên bệnh nhân suy gan nhẹ và trung bình. Chưa có dữ liệu trên bệnh nhân suy gan nặng. AUC của ranolazin không bị ảnh hưởng ở bệnh nhân suy gan nhẹ nhưng tăng 1,8 lần ở bệnh nhân suy gan trung bình. QT kéo dài rõ hơn ở những bệnh nhân này.
Trẻ em: Các thông số dược động học của ranolazin hiện chưa được nghiên cứu trên trẻ em (< 18 tuổi).
Viên nén Ranexicor giải phóng kéo dài có hình bầu dục.
Viên nén 375mg có màu xanh da trời nhạt và được khắc 375 ở một mặt.
Để thuốc xa tầm nhìn và tầm với của trẻ em.
Không được dùng Ranexicor sau ngày hết hạn (EXP). Ngày hết hạn được ghi trên vỏ hộp và vỉ thuốc.
Bảo quản ở nhiệt độ không quá 30°C.
Không vứt bỏ bất kỳ loại thuốc nào qua đường nước thải hoặc chất thải sinh hoạt. Hãy hỏi dược sĩ cách vứt bỏ thuốc bạn không còn sử dụng. Những biện pháp này sẽ giúp bảo vệ môi trường.
Hộp 2 vỉ x 15 viên.
3 năm kể từ ngày sản xuất.
Menarini - Von Heyden GmbH.