Giao hàng tại: Hồ Chí Minh
Tải app An Khang - Freeship mọi đơn - Ưu đãi đến 200.000đ

Talliton 12.5mg trị tăng huyết áp, suy tim (2 vỉ x 14 viên)

Ngừng kinh doanh

Mã: 104759

Thuốc này chỉ dùng theo đơn của bác sĩ. Vui lòng sao chép thông tin sản phẩm và gửi cho dược sĩ qua Zalo để được tư vấn

Sao chép thông tin sản phẩm

Khuyến mãi

Các ưu đãi khác

Hóa đơn từ 200,000đ tặng vocuher trị giá 30,000đ mua sản phẩm OSTELIN 130V

Hóa đơn từ 200,000đ tặng voucher trị giá 50,000đ mua sản phẩm ENTEROGERMINA BABY COMFORT

1/26

Thông tin sản phẩm

Công dụng
Điều trị tăng huyết áp, suy tim mạn tính, đau thắt ngực ổn định mạn tính
Thành phần chính
Carvedilol
Đối tượng sử dụng
Thuốc kê đơn - Sử dụng theo chỉ định của Bác sĩ
Thương hiệu
Egis
Nhà sản xuất
EGIS PHARMACEUTICALS PLC

Hướng dẫn sử dụng

Mọi thông tin dưới đây đã được Dược sĩ biên soạn lại. Tuy nhiên, nội dung hoàn toàn giữ nguyên dựa trên tờ Hướng dẫn sử dụng, chỉ thay đổi về mặt hình thức.

1. Thành phần

Hoạt chất: Trong mỗi viên nén có 12,5 mg hoạt chất carvedilol.

Tá dược: Lactose monohydrat, crospovidon, sucrose, colloidal anhydrous silica, povidon K-25, magnesi stearat. Trong viên nén Talliton 12,5 mg có Sunset Yellow C.1.15985 EEC 110 là chất tạo màu.

2. Công dụng (Chỉ định)

Tăng huyết áp:

Chủ yếu để điều trị tăng huyết áp vô căn; dùng đơn thuần hoặc phối hợp với thuốc khác.

Suy tim mạn tính (NYHA II-IV):

Nếu không có chống chỉ định, carvedilol được dùng để điều trị suy tim mạn tính ổn định ở mức độ nhẹ, trung bình hay nặng và không tùy thuộc vào nguyên nhân có thiếu máu cục bộ hay khong. Dùng phối hợp với liệu pháp chuẩn trong suy tim mạn (các thuốc ức chế men chuyển angiotensin (ACE), lợi tiểu kèm theo hoặc không kèm theo digoxin) để làm bệnh chậm tiến triển ở những bệnh nhân suy tim ở mức độ ll-IV theo NVHA (Hiệp Hội Tim Mạch New York).

Đau thắt ngực ổn định mạn tính:

Để điều trị lâu dài chứng đau thắtt ngực ổn định mạn tính.

Suy thất trái sau nhồi máu cơ tim:

Điều trị lâu dài nhồi máu cơ tim liên quan đến suy thất trái (phân suất tống máu thất trái ≤ 40% hoặc chỉ số vận động thành ≤ 1,3) kết hợp với các thuốc ức chế ACE và các biện pháp điều trị khác.

3. Cách dùng - Liều dùng

Cách dùng:

Uống nguyên viên không nhai, với nhiều nước.

Bệnh nhân suy tim mạn tính cần uống thuốc kèm với thức ăn.

Điều trị bằng carvedilol là điều trị lâu dài. Không ngừng thuốc đột ngột, phải giảm liều một cách từ từ mỗi tuần. Điều này đặc biệt quan trọng đối với bệnh nhân có đau thắt ngực.

Liều lượng:

Tăng huyết áp:

Người lớn:

Liều khởi đầu được khuyến cáo là 12,5 mg ngày một lần trong hai ngày đầu. Nếu liều này được bệnh nhân dung nạp tốt thì có thể tăng liều. Liều duy trì được khuyến cáo là 25 mg ngày một lần. Nếu hiệu quả chưa thỏa đáng, trong trường hợp đã dùng thuốc hơn 14 ngày, thì có thể tăng dần liều đến tối đa là 50 mg, ngày uống một lần, hoặc chia làm hai liều bằng nhau, 25 mg ngày hai lần.

Người già:

Liều khởi đầu được khuyến cáo là 12,5 mg. Với liều này một số bệnh nhân kiểm soát được huyết áp khi điều trị lâu dài. Nếu đáp ứng không thỏa đáng thì có thể tăng dần liều đến tối đa là 50 mg, ngày uống một lần hay chia làm nhiều lần với khoảng cách tăng liều là 2 tuần.

Đau thắt ngực ổn định mạn tính:

Người lớn:

Liều khởi đầu được khuyến cáo là 12,5 mg ngày hai lần trong hai ngày đầu. Liều duy trì được khuyến cáo là 25 mg ngày hai lần. Nếu chưa đạt hiệu quả thỏa đáng thì sớm nhất là sau 14 ngày có thể tăng liều lên tối đa là 100 mg mỗi ngày, chia làm hai lần.

Người già:

Liều tối đa trong ngày được khuyến cáo là 50 mg chia làm nhiều lần.

Suy tim mạn (NYHAII-IV):

Người lớn:

Việc điều trị với Talliton phải được tiến hành dần và liều lượng phải được điều chỉnh và tăng dần dưới sự theo dõi chặt chẽ của một thầy thuốc tim mạch đã được đào tạo chuyên khoa. Chỉ tiến hành điều chỉnh trị liệu với Talliton khi tình trạng lâm sàng ổn định.

Liều lượng thích hợp cần được xác định cho từng người bệnh.

Liều lượng của digoxin, các thuốc lợi tiểu và thuốc ức chế ACE phải được ổn định trước khi bắt đầu điều trị với Talliton.

Liều khởi đầu được khuyến cáo là 3,125 mg ngày hai lần trong hai tuần đầu. Liều 3,125 mg có được bằng cách bẻ đôi viên nén 6,25 mg. Nếu liều này được dung nạp tốt thì có thể tăng liều đến 6,25 mg ngày hai lần, sau đó là 12,5 mg ngày hai lần cho đến 25 mg ngày hai lần, với khoảng cách của mỗi lần tăng liều không dưới hai tuần. Bệnh nhân phải được dùng liều duy trì cao nhất mà họ dung nạp được.

Liều tối đa trong ngày được khuyến cáo là 25 mg ngày hai lần cho những bệnh nhân bị suy tim mạn tính nặng và những bệnh nhân bị suy tim mạn tính nhẹ đến trung bình có cân nặng dưới 85 kg. Đối với những bệnh nhân suy tim mạn tính nhẹ hay trung bình có cân nặng hơn 85 kg thi liều tối đa trong ngày được khuyến cáo là 50 mg ngày hai lần.

Trước mỗi lần tăng liều phải kiểm tra xem bệnh nhân có các triệu chứng trở nặng của suy tim hay các dấu hiệu giãn mạch (huyết áp thấp, chóng mặt) hay không.

Các triệu chứng suy tim trở nặng hay giữ nước có thể xuất hiện một cách thoáng qua, trong những trường hợp này nên tăng liều các thuốc lợi tiểu. Đôi khi có thể cần phải giảm liều Talliton, hay ngưng thuốc này tạm thời. Khi ngưng dùng carvedilol trong thời gian hơn một tuần, thì khi điều trị lại phải dùng liều thấp hơn, ngay hai lần, và tăng dần đến liều thích hợp theo phác đồ thăm dò liều nói trên. Trong trường hợp phải ngưng thuốc lâu hơn hai tuần, thì khi điều trị lại phải bắt đầu với liều thấp nhất được khuyến cáo, nghĩa là 3,125 mg carvedilol ngày hai lần, sau đó liều thuốc cho bệnh nhân phải được điều chỉnh theo phác đồ nói trên.

Các triệu chứng của giãn mạch (huyết áp thấp, tay chân ấm) phải được xử trí đầu tiên bằng cách giảm liều các thuốc lợi tiểu. Nếu các triệu chứng này vẫn còn và nếu bệnh nhân đồng thời có dùng thuốc ức chế ACE thì có thể giảm liều thuốc ức chế ACE. Nếu cần thiết thì sau đó có thể giảm liều Talliton.

Trong những trường hợp này thì không được tăng liều Talliton cho đến khi các triệu chứng trở nặng của suy tim hay giãn mạch được cải thiện.

Người già:

Liều lượng cũng tương tự như liều thông thường của người lớn.

Suy thất trái sau nhồi máu cơ tim:

Người lớn:

Quá trình chuẩn liều carvedilol phải được tiến hành cho từng bệnh nhân dưới sự giám sát y tế chặt chẽ. Có thể bắt đầu điều trị khi bệnh nhân có tình trạng huyết động ổn định, không bị giữ nước, có thể tiến hành ở bệnh viện hoặc ngoại trú.

Trước khi điều trị bằng carvedilol, bệnh nhân có huyết động ổn định phải sử dụng thuốc ức chế ACE cách đó ít nhất 48 giờ, trong khoảng thời gian này, trong 24 giờ gần nhất liều dùng của thuốc ức chế ACE phai ổn định. Sau đó, có thể bắt đầu trị liệu bằng carvedilol từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 21 sau nhồi máu cơ tim.

Liều khởi đầu được khuyến cáo là 6,25 mg. Sau khi dùng liều đầu tiên, bệnh nhân cần được theo dõi trong vòng 3 giờ (xem mục "Cảnh báo và thận trọng"). Nếu bệnh nhân dung nạp tốt liều đầu tiên (nhịp tim >50 nhịp/phút), huyết áp tâm thu > 80 mmHg và không có triệu chứng của không dung nạp) cần tăng liều lên 6,25 mg ngày 2 lần và giữ nguyên liều này trong 3-10 ngày. Nếu trong thời gian này xuất hiện các dấu hiệu của sự không dung nạp, đặc biệt là nhịp tim chậm (< 50 nhịp/phút), huyết áp tâm thu dưới 80 mmHg hoặc giữ nước, cần giảm liều còn 3,125 mg ngày 2 lần. Nếu bệnh nhân không dung nạp liều này, cần ngừng điều trị bằng carvedilol. Nếu bệnh nhân dung nạp tốt thì sau 3-10 ngày lại tăng liều đến 6,25 mg ngày 2 lần.

Nếu liều 6,25 mg ngày 2 lần được dung nạp tốt, sau 3-10 ngày cần tăng liều lên 12,5 mg ngày 2 lần sau đó 25 mg ngày 2 lần. Cần tiếp tục sử dụng liều duy trì là liều cao nhất bệnh nhân có thể dung nạp được. Liều tối đa được khuyến cáo là 25 mg ngày 2 lần không phụ thuộc vào trọng lượng cơ thể bệnh nhân.

Người già:

Liều lượng cũng tương tự như liều thông thường của người lớn.

Các đối tượng bệnh nhân đặc biệt:

Bệnh nhân suy thận:

Dựa trên các nghiên cứu dược động học ở bệnh nhân suy thận với các mức độ khác nhau bao gồm cả suy thận nặng, không cần phải điều chỉnh liều carvedilol cho bệnh nhân suy thận vừa hoặc nặng.

Bệnh nhân mắc bệnh gan:

Chống chỉ định dùng carvedilol cho bệnh nhân bị rối loạn nặng chức năng gan (xem mục "Chống chỉ định”, "Cảnh báo và thận trọng” và "Đặc tính dược động học”). Trong trường hợp chức năng gan bị rối loạn mức độ vừa thì có thể cần phải giảm liều.

Trẻ em và thanh thiếu niên:

Độ an toàn và hiệu quả của thuốc khi dùng cho trẻ em và thanh thiếu niên dưới 18 tuổi chưa được xác định, do đó không dùng Talliton cho những đối tượng bệnh nhân này.

- Quá liều

Quá liều có thể dẫn đến hạ huyết áp nặng, nhịp tim chậm, suy tim, choáng do tim và suy tâm thu. Ngoài ra có thể xảy ra khó thở, co thắt phế quản, nôn, mất tri giác, co giật toàn thân.

Xử trí:

Rửa dạ dày hay gây nôn có thể giúp ích trong vòng vài giờ sau khi uống thuốc.

Ngoài các biện pháp tổng quát, phải theo dõi và điều chỉnh các thông số sinh tồn, nếu cần thiết áp dụng các biện pháp trong điều kiện chăm sóc tích cực.

Có thể áp dụng các biện pháp hỗ trợ sau đây:

• Đặt bệnh nhân ở tư thế nằm.

• Nếu nhịp tim chậm nhiều: tiêm tĩnh mạch 0,5 mg đến 2 mg atropin.

Để hỗ trợ chức năng tim mạch: đầu tiên tiêm tĩnh mạch 1 mg đến 10 mg glucagon, sau đó có thể truyền dịch chậm 2 mg đến 5 mg/giờ.

• Dùng các thuốc tác dụng giống thần kinh giao cảm tùy theo cân nặng và đáp ứng điều trị: dobutamin, isoprenalin, orciprenalin hay epinephrin. Nếu cần tác dụng tăng lực co cơ thì xem xét dùng các thuốc ức chế phosphodiesterase như milrinon.

• Nếu nhịp tim chậm không đáp ứng với điều trị nội khoa thì cần phải đặt máy điều nhịp.

• Nếu hạ huyết áp nặng thì có thể cho dịch truyền tĩnh mạch.

• Nếu co giãn mạch ngoại biên nặng (tụt huyết áp với tay chân ấm) thì cần dùng norepinephrin cùng với việc theo dõi liên tục các thông số tuần hoàn.

• Nếu có co thắt phế quản thì dùng thuốc chủ vận thụ thể β2 dưới dạng khí dung hay theo đường tĩnh mạch hoặc phải dùng aminophyllin.

• Nếu có co giật do nguyên nhân trung tâm thì tiêm tĩnh mạch chậm diazepam hay clonazepam.

• Trong trường hợp quá liều mà có sốc nặng thì phải áp dụng các biện pháp hỗ trợ trong một thời gian dài, vì có thể xảy ra tăng thời gian bán hủy và tái phân bố carvedilol từ các ngăn ở sâu.

Thời gian áp dụng các biện pháp điều trị hỗ trợ tùy thuộc vào mức độ nặng của quá liều, do đó cần phải tiếp tục cho đến khi tình trạng của bệnh nhân được ổn định.

Các dấu hiệu lưu ý và cảnh báo khác:

Không áp dụng.

4. Chống chỉ định

• Quá mẫn với hoạt chất hay bất kỳ thành phần nào của thuốc được liệt kê trong mục "Thành phần, hàm lượng của thuốc".

• Bệnh tắc nghẽn đường hô hấp (xem mục "Cảnh báo và thận trọng").

• Rối loạn nặng chức năng gan.

• Cũng giống như với các thuốc chẹn bêta khác: co thắt phế quản hay tiền sử có hen phế quản.

• Blốc nhĩ-thất độ 2 hay 3 (trừ phi bệnh nhân đã được đặt máy điều nhịp).

• Nhịp tim chậm nhiều (< 50 nhịp/phút).

• Sốc tim.

• Hội chứng xoang bệnh (kể cả blốc xoang-nhĩ).

• Huyết áp thấp nặng (huyết áp tâm thu < 85 mmHg).

• Nhiễm toan chuyển hóa.

• U tế bào ưa crôm (trừ các bệnh nhân đã được ổn định nhờ phong bế alpha hiệu quả) (xem mục "Cảnh báo và thận trọng").

• Suy tim không ổn định, mất bù cần được điều trị theo đường tĩnh mạch bằng các thuốc tăng lực co cơ và/hoặc lợi tiểu, tăng huyết áp ở phổi, bệnh tim do phổi.

• Đang dùng theo đường tĩnh mạch thuốc chẹn kênh calci thuộc loại verapamil hay diltiazem.

5. Tác dụng phụ

Bảng các tác dụng không mong muốn

Các tác dụng không mong muốn được phân loại theo hệ cơ quan và tần suất xảy ra.

Tần suất được quy ước như sau:

Rất thường gặp (>1/10).

Thường gặp (>1/100 đến <1/10).

Ít gặp (>1/1.000 đến <1/100).

Hiếm gặp (>1/10.000 đến <1/1.000).

Rất hiếm gặp (<1/10.000).

Bảng 1 dưới đây tóm tắt các tác dụng không mong muốn đã được báo cáo khi sử dụng carvedilol trong các thử nghiệm lâm sàng then chốt với các chỉ định sau: suy tim mạn tính, suy thất trái sau nhồi máu cơ tim cấp, tăng huyết áp và điều trị dài hạn bệnh mạch vành.

Bảng 1: Các tác dụng không mong muốn dựa trên dữ liệu từ các thử nghiệm lâm sàng

Phân loại hệ cơ quanTác dụng không mong muốnTần suất
Nhiễm trùng và nhiễm ký sinh trùngviêm phế quảnthường gặp
viêm phổithường gặp
nhiễm khuẩn đường hô hấp trênthường gặp
nhiễm khuẩn đường tiết niệuthường gặp
Rối loạn máu và hệ bạch huyếtthiếu máuthường gặp
giảm tiểu cầuhiếm gặp
giảm bạch cầurất hiếm gặp
Rối loạn hệ miễn dịchmẫn cảm (phản ứng dị ứng)rất hiếm gặp
Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡngtăng cânthường gặp
tăng cholesterol máuthường gặp
tăng đường huyết, hạ đường huyết và khó kiểm soát đường huyết hơn ở bệnh nhân đái tháo đườngthường gặp
Rối loạn tâm thầntrầm cảm, cảm giác mệt mỏi,thường gặp
rối loạn giấc ngủít gặp
Rối loạn hệ thần kinhchóng mặtrất thường gặp
đau đầurất thường gặp
ngất (bao gồm cả choáng váng)thường gặp
dị cảmít gặp
Rối loạn mắtsuy giảm thị lựcthường gặp
giảm tiết nước mắt (khô mắt)thường gặp
kích ứng mắtthường gặp
Rối loạn timsuy timrất thường gặp
nhịp tim chậmthường gặp
tăng lưu lượng máuthường gặp
phùthường gặp
blốc nhĩ thấtít gặp
đau thắt ngựcít gặp
Rối loạn mạchhạ huyết áprất thường gặp
hạ huyết áp thế đứng, giảm tuần hoàn ngoại biên (chân tay lạnh, bệnh mạch máu ngoại biên, làm nặng thêm khập khễnh cách hồi và hiện tượng Raynaud)thường gặp
tăng huyết ápthường gặp
Rối loạn hô hấp, ngực và trung thấtkhó thởthường gặp
phù phổithường gặp
cơn hen ở bệnh nhân có cơ địa henthường gặp
nghẹt mũihiếm gặp
Rối loạn tiêu hóaBuồn nônthường gặp
nônthường gặp
tiêu chảythường gặp
khó tiêuthường gặp
đau bụngthường gặp
táo bónít gặp
khô miệnghiếm gặp
Rối loạn gan mậttăng nồng độ alanine-aminotransferase (ALT),aspartate-aminotransferase (AST), gamma-glutamyl-transferase (GGT) trong huyết thanhrất hiếm gặp
Rối loạn da và mô dưới dacác phản ứng da (như ban dị ứng, viêm da, nổi mề đay, ngứa, phản ứng giống liken phẳng, các tổn
thương da dạng vảy nến, hoại tử)
ít gặp
Rối loạn cơ xương và mô liên kếtđau ở các đầu chithường gặp
Rối loạn thận và tiết niệusuy thận cấp và bất thường chức năng thận ở những bệnh nhân có bệnh mạch máu lan tỏa và/ hoặc suy giảm chức năng thậnthường gặp
rối loạn tiểu tiệnhiếm gặp
Rối loạn vú và hệ sinh sảnrối loạn chức năng cương dươngít gặp
Rối loạn toàn thân và tại vị trí dùng thuốcSuy nhược (bao gồm cả mệt mỏi)rất thường gặp
phùthường gặp
đauthường gặp

Mô tả các tác dụng không mong muốn được lựa chọn:

Tần suất xảy ra các tác dụng không mong muốn không phụ thuộc liều dùng, ngoại trừ chóng mặt, bất thường thị lực và nhịp tim chậm. Chóng mặt, ngất, đau đầu và suy nhược thường nhẹ và có nhiều khả năng xảy ra khi bắt đầu điều trị.

Ở những bệnh nhân bị suy tim sung huyết, tình trạng suy tim xấu đi và giữ nước có thể xảy ra trong quá trình chuẩn độ tăng liều carvedilol (Xem mục “Cảnh báo và thận trọng").

Suy tim là một tác dụng không mong muốn thường được báo cáo xảy ra ở cả những bệnh nhân dùng giả dược và bệnh nhân dùng carvedilol (tương ứng là 14,5% và 15,4% ở bệnh nhân suy thất trái sau nhồi máu cơ tim cấp).

Suy giảm chức năng thận có hồi phục đã được ghi nhận khi điều trị bằng carvedilol ở những bệnh nhân suy tim mạn tính với huyết áp thấp, bệnh thiếu máu cục bộ cơ tim và bệnh mạch máu lan tỏa và/ hoặc suy thận tiềm ẩn (Xem mục "Cảnh báo và thận trọng").

Kinh nghiệm hậu mãi:

Các tác dụng không mong muốn sau đã được xác định trong quá trình lưu hành carvedilol. Do những tác dụng này được báo cáo từ quần thể dân số có kích thước không chắc chắn, do đó không đáng tin cậy để ước tính tần suất xảy ra và/ hoặc thiết lập một mối quan hệ nhân quả với tiếp xúc thuốc.

Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng:

Cũng như các thuốc chẹn thụ thể beta khác, bệnh tiểu đường tiềm ẩn có thể biểu hiện hoặc bệnh tiểu đường đã biết có thể trầm trọng hơn trong quá trình điều trị bằng carvedilol và kiểm soát đường huyết có thể khó khăn.

Rối loạn da và mô dưới da:

Ít gặp: Rụng tóc.

Rất hiếm gặp: các phản ứng bất lợi nặng trên da (như hội chứng Stevens- Johnson, hoại tử biểu bì nhiễm độc, hồng ban đa dạng).

Rối loạn thận và tiết niệu:

Carvedilol có thể gây tiểu tiện không tự chủ ở nữ giới, tác dụng phụ này sẽ mất đi khi ngừng thuốc.

6. Lưu ý

- Thận trọng khi sử dụng

Thận trọng khi sử dụng:

Suy tim mạn tính:

Trong suy tim mạn tính, các triệu chứng của suy tim có thể nặng hơn hoặc giữ nước có thể xảy ra trong giai đoạn chuẩn độ tăng liều carvedilol. Nếu xảy ra các triệu chứng này, cần tăng liều thuốc lợi tiểu và không nên tăng liều Talliton đến khi ổn định tình trạng lâm sàng.

Đôi khi cần phải giảm liều hoặc tạm ngừng sử dụng Talliton. Liều này không ngăn trở sự chuẩn liều thành công sau đó.

Trong suy tim mạn tính, việc điều trị chỉ có thể bắt đầu và tiếp tục khi nào mà suy tim đạt giai đoạn bù một cách thỏa đáng.

Phải thận trọng khi dùng carvedilol cho những bệnh nhân tăng huyết áp có dùng digitalis, lợi tiểu và/hoặc thuốc ức chế ACE để trị suy tim mạn tính vì cả digitalis lần carvedilol đều có thể làm chậm sự dẫn truyền nhĩ-thất (xem mục "Tương tác với các thuốc khác và các dạng tương tác khác").

Đái tháo đường:

Cũng giống như các thuốc chẹn bêta khát, carvedilol có thể che lấp các dấu hiệu sớm của cơn hạ đường huyết cấp ở bệnh nhân bị đái tháo đường, do đó cần phải giám sát thường xuyên đường huyết. Cũng giống như với các thuốc chẹn thụ thể bêta khác, carvedilol có thể gây bộc phát bệnh tiểu đường tiềm ẩn, hoặc làm trầm trọng hơn bệnh tiểu đường đã biết (xem mục “Tương tác với thuốc khác và các dạng tương tác khác” và "Tác dụng không mong muốn"), ở bệnh nhân bị đái tháo đường kèm suy tim mạn, carvedilol đôi khi có thể làm việc kiểm soát đường huyết khó khăn hơn.

Chức năng thận trong suy tim:

Chức năng thận có thể bị giảm một cách thuận nghịch khi suy tim mạn có kèm theo huyết áp thấp (huyết áp tâm thu < 100mmHg), bệnh thiếu máu cơ tim cục bộ, bệnh mạch máu lan tỏa và/hoặc suy thận có sẵn. Ở những bệnh nhân này phải kiểm tra chức năng thận trong khi tăng dần liều Talliton. Nếu chức năng thận bị giảm thì phải ngưng thuốc hay giảm liều.

Suy thất trái sau nhồi máu cơ tim cấp:

Trước khi điều trị bằng carvedilol, bệnh nhân có huyết động ổn định phải sử dụng thuốc ức chế ACE cách đó ít nhất 48 giờ, trong khoảng thời gian này, tròng 24 giờ gần nhất liều dùng của thuốc ức chế ACE phải ổn định (xem mục "Liều dùng và cách dùng").

Người mang kính áp tròng:

Những người mang kính áp tròng phải được cảnh báo là thuốc có thể làm giảm sự tiết nước mắt.

Bệnh mạch ngoại biên:

Cần thận trọng khi có bệnh ở động mạch ngoại biên vì các thuốc chẹn bêta đơn thuần có thể gây ra hay làm nặng hơn các triệu chứng suy động mạch. Carvedilol cũng có đặc tính chẹn alpha, do đó có thể chống lại tác dụng này.

Hiện tượng Raynaud:

Khi bị rối loạn tuần hoàn ngoại biên (như trong hiện tượng Raynaud) thì phải thận trọng khi dùng carvedilol vì các triệu chứng có thể nặng thêm.

Tăng năng tuyến giáp:

Giống như các thuốc chẹn bêta khác, thuốc có thể che lấp các triệu chứng của tăng năng tuyến giáp.

Chậm nhịp tim:

Carvedilol gây chậm nhịp tim. Nếu nhịp tim chậm (nhịp tim < 55 nhịp/phút) thì phải giảm liều Talliton.

Phản ứng quá mẫn:

Ở những bệnh nhân có tiền sử bị phản ứng quá mẫn nặng và những người đang trong giai đoạn trị liệu giải mẫn cảm thì các thuốc chẹn bêta có thể làm tăng tính mẫn cảm đối với các dị ứng nguyên cũng như tăng mức độ nặng của các phản ứng phản vệ.

Bệnh vẩy nến:

Phải cân nhắc kỹ lợi hại trước khi dùng carvedilol cho những bệnh nhân bị bệnh vẩy nến hay có tiền sử trong gia đình mắc bệnh vẩy nến.

U tế bào ưa crôm:

Chỉ dùng thuốc chẹn bêta cho bệnh nhân bị u tế bào ưa crôm sau khi những bệnh nhân này đã được điều trị trước đó bằng thuốc chẹn alpha. Chưa có kinh nghiêm trong việc sử dụng carvedilol, một thuốc có cả hai đặc tính chẹn alpha và chẹn bêta trong bệnh u tế bào ưa crôm, do đó phải thận trọng khi dùng thuốc nếu nghi ngờ có u tế bào ưa crôm.

Đau thắt ngực Prinzmetal:

Các thuốc chẹn beta không chọn lọc có thể gây cơn đau ngực ở bệnh nhân bị chứng đau thắt ngực Prinzmetal. Mặc dù hoạt tính chẹn alpha của carvedilol có thể ngăn ngừa tác dụng này, nhưng vì không có kinh nghiệm lâm sàng của việc dùng carvedilol trong chứng đau thắt ngực Prinzmetal cho nên phải thận trọng khi dùng thuốc cho những bệnh nhân này.

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính:

Đối với bệnh nhân bị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính mà có xu hướng bị phản ứng co thắt phế quản, không được điều trị nội khoa bằng đường uống hay hít, thì phải thận trọng khi dùng carvedilol sau khi đã cân nhắc lợi hại.

Ở những bệnh nhân có yếu tố bẩm sinh dễ bị co thắt phế quản, thì suy hô hấp có thể xảy ra như là hậu quả của sự gia tăng lực cản trong đường không khí. Phải theo dõi kỹ bệnh nhân khi bắt đầu điều trị và khi tăng dần liều carvedilol, và phải giảm liều carvedilol nếu xảy ra co thắt phế quản trong khi điều trị (xem mục "Tương tác với các thuốc khác và các dạng tương tác khác").

Tương tác với các thuốc khác:

Có một số tương tác dược động học và dược lực học quan trọng với thuốc khác (như digoxin, cyclosporin, rifampicin, các thuốc gây mê, các thuốc chống loạn nhịp, xem mục "Tương tác với thuốc khác và các dạng tương tác khác").

Sử dụng đồng thời với các thuốc chẹn kênh calci:

Khi dùng đồng thời với các thuốc chẹn kênh calci thuộc loại verapamil hay diltiazem, hay các thuốc chống loạn nhịp khác thì cần phải theo dõi kỹ điện tâm đồ và huyết áp (xem mục "Tương tác với các thuốc khác và các dạng tương tác khác").

Gây mê:

Phải chú ý khi tiến hành phẫu thuật với gây mê toàn thân vì có thể xuất hiện tác dụng giảm lực co cơ có tính hiệp lực giữa carvedilol và các thuốc gây mê (xem mục ‘Tương tác với các thuốc khác và các dạng tương tác khác").

Các triệu chứng ngưng thuốc:

Không nên ngừng điều trị bằng carvedilol một cách đột ngột. Việc ngưng điều trị (đặc biệt trong thiếu máu cơ tim cục bộ và suy tim) phải được tiến hành thận trọng trong vòng một hay hai tuần để tránh tác dụng ngược lại của thuốc.

Clamidin:

Khi ngưng điều trị phối hợp với clonidin, thì trước tiên phải giảm dần liều carvedilol, vài ngày trước khi ngưng clonidine (xem mục “Tương tác với các thuốc khác và các dạng tương tác khác").

Trẻ em:

Độ an toàn và hiệu quả khi dùng thuốc cho trẻ em dưới 18 tuổi chưa được xác định.

Tá dược:

Lactose:

Thuốc chứa lactose monohydrat. Bệnh nhân có vấn đề hiếm gặp về di truyền làm cho không dung nạp được lactose, không dung nạp lactose hoặc thiếu hụt glucose-galactose không nên dùng thuốc này.

Sucrose:

Thuốc chứa sucrose. Bệnh nhân có vấn đề hiếm gặp về di truyền làm cho không dung nạp được fructose, kém hấp thu glucose-galactose hay bị thiếu hụt men sucrase-isomaltase không nên dùng thuốc này.

Khác:

Viên nén 12,5 mg chứa Sunset Yellow C.1.15985 EEC 110 là chất tạo màu, có thể gây phản ứng dị ứng.

- Thai kỳ và cho con bú

Phụ nữ có thai:

Các nghiên cứu trên động vật cho thấy thuốc có độc tính đối với sinh sản. Những nguy cơ tiềm ẩn cho con người chưa được xác định.

Các dữ liệu về việc sử dụng carvedilol ở phụ nữ mang thai còn hạn chế. Không nên dùng carvedilol trong khi mang thai trừ khi lợi ích của việc điều trị vượt trội nguy cơ có thể xảy ra.

Các thuốc chẹn bêta làm giảm nuôi dưỡng qua nhau thai vì thế có thể gây thai chết lưu, sảy thai và sinh non. Ngoài ra, các tác dụng không mong muốn (đặc biệt là hạ đường huyết và nhịp tim chậm) có thể xảy ra cho thai nhi và trẻ sơ sinh. Tàng nguy cơ các biến chứng tim và phổi ở trẻ sơ sinh trong giai đoạn sau sinh.

Phụ nữ cho con bú:

Các nghiên cứu trên động vật cho thấy carvedilol và các chất chuyển hóa của nó được tiết vào sữa động vật mẹ. Chưa biết liệu carvedilol có được tiết vào sữa người mẹ hay không. Tuy nhiên, hầu hết các thuốc chẹn bêta, đặc biệt là các hợp chất ưa mỡ, sẽ đi vào sữa mẹ nhưng ở mức độ khác nhau. Do đó người mẹ không nên cho con bú khi điều trị bằng carvedilol.

- Khả năng lái xe và vận hành máy móc

Chưa có các nghiên cứu về ảnh hưởng của thuốc đến khả năng lái xe và vận hành máy móc.

Với tác dụng hạ huyết áp, Talliton ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy móc với mức độ thay đổi tùy từng người (chẳng hạn chóng mặt, mệt mỏi). Bệnh nhân dùng Talliton không nên lái xe hay vận hành máy móc nếu thấy có chóng mặt hay có các triệu chứng khác đi kèm với hạ huyết áp. Đặc biệt các triệu chứng này có thể xảy ra khi bắt đầu hoặc thay đổi điều trị, và khi uống rượu.

- Tương tác thuốc

Các tương tác dược động học:

Ảnh hưởng của carvedilol lên dược động học của các thuốc khác:

Carvedilol là một cơ chất cũng như một chất ức chế P-glycoprotein. Do đó sinh khả dụng của các thuốc được vận chuyển bằng P-glycoprotein có thể được tăng lên khi sử dụng đồng thời với carvedilol. Ngoài ra, sinh khả dụng của carvedilol có thể được bị thay đổi bởi các thuốc gây cảm ứng hoặc ức chế P-glycoprotein.

Digoxin: Trong một số nghiên cứu trên người khỏe mạnh và bệnh nhân bị suy tim, mức tiếp xúc của digoxin tăng lên đến 20%. Tác dụng này tăng đáng kể ở những bệnh nhân nam so với bệnh nhân nữ. Do đó cần theo dõi nồng độ digoxin khi bắt đầu điều trị, khi điều chỉnh liều hoặc ngưng điều trị bằng carvedilol (Xem mục "Cảnh báo và thận trọng"). Carvedilol không gây ảnh hưởng đến digoxin dùng theo đường tĩnh mạch.

Cyclosporin: Hai nghiên cứu ở bệnh nhân ghép thận và tim dùng cyclosporin đường uống cho thấy sự gia tăng nồng độ cyclosporin trong huyết tương sau khi bắt đầu điều trị bằng carvedilol. Dường như carvedilol làm tăng mức tiếp xúc của cyclosporin đường uống khoảng 10-20%. Trong khoảng 30% số bệnh nhân, cần giảm liều cyclosporin để duy trì nồng độ cyclosporin trong khoảng điều trị, trong khi không cần điều chỉnh liều cyclosporin ở số bệnh nhân còn lại. Tính trung bình, liều cyclosporin được điều chỉnh giảm khoảng 20%. Cơ chế của sự tương tác chưa được biết, nhưng sự ức chế hoạt động P-glycoprotein của carvedilol trong ruột có thể đóng một vai trò trong đó. Do có sự biến thiên lớn giữa các cá thể trong điều chỉnh liều nên cần thiết phải theo dõi chặt chẽ nồng độ cyclosporin khi điều trị bằng carvedilol và điều chỉnh liều cyclosporin cho thích hợp. Trong trường hợp dùng cyclosporin theo đường tĩnh mạch, không có tương tác với carvedilol.

Ảnh hưởng của các thuốc khác lên dược động học của carvedilol:

Các thuốc ức chế cũng như cảm ứng CYP2D6 và CYP2C9 có thể thay đổi sự chuyển hóa ban đầu và toàn thân của carvedilol, dẫn đến làm tăng hoặc giảm nồng độ của R và S-carvedilol trong huyết tương. Sau đây là một số ví dụ được ghi nhận ở các bệnh nhân hoặc người khỏe mạnh, nhưng danh sách này là chưa đầy đủ.

Amiodaron: Một nghiên cứu in vitro trên các microsom gan người đã cho thấy amiodaron và desethyl-amiodaron ức chế quá trình oxy hóa của R và S-carvedilol. Nồng độ tối thiểu của R và S-carvedilol tăng lên đáng kể 2,2 lần ở những bệnh nhân suy tim sử dụng carvedilol và amiodaron đồng thời so với các bệnh nhân chỉ dùng carvedilol. Các ảnh hưởng trên S-carvedilol là do desethyl-amiodaron, một chất chuyển hóa của amiodaron, là một chất ức chế mạnh CYP2C9.

Do đó, có nguy cơ tiềm ẩn của tăng phong bế beta do tăng nồng độ của S-carvedilol trong huyết tương.

Rifampicin: Trong một nghiên cứu trên 12 người khỏe mạnh, mức độ tiếp xúc với carvedilol giảm khoảng 60% khi dùng đồng thời với rifampicin và đã quan sát thấy sự giảm tác dụng của carvedilol đối vớihuyết áp tâm thu. Cơ chế của tương tác chưa được biết, nhưng có thể là dó sự cảm ứng của p glycoprotein ruột gây nên bởi rifampicin. Nên giám sát chặt chẽ các tác dụng chẹn bêta ở những bệnh nhân dùng đồng thời carvedilol và rifampicin.

Fluoxetin và paroxetin: Trong một nghiên cứu bắt chéo, ngẫu nhiên tiến hành trên 10 bệnh nhân bị suy tim, sử dụng đồng thời fluoxetin - một chất ức chế mạnh CYP2D6 – dẫn đến ức chế sự chuyển hóa lập thể carvedilol với mức tăng 77% AUC trung bình của đóng phân R và tăng 35% AUC của đồng phân S so với nhóm dùng giả dược. Tuy nhiên, không quan sát thấy sự khác biệt về các tác dụng không mong muốn, huyết áp hoặc nhịp tim giữa các nhóm điều trị. Tác dụng của paroxetin - một chất ức chế mạnh CYP2D6 - đối với dược động của carvedilol đã được tiến hành trên 12 người khỏe mạnh sau khi uống liều đơn carvedilol. Mặc dù có sự gia tăng đáng kể mức tiếp xúc của đồng phân R và đồng phân S- carvedilol, nhưng không quan sát thấy các tác dụng lâm sàng trên những người khỏe mạnh này.

Các tương tác dược lực học:

Các thuốc gây giảm tác dụng của catecholamin: Bệnh nhân sử dụng đồng thời thuốc chẹn bêta và một thuốc có thể gây giảm tác dụng của catecholamin (chẳng hạn reserpin và các thuốc ức chế monoamine oxidase) cần được theo dõi chặt chẽ vì có thể xảy ra hạ huyết áp và/hoặc nhịp tim chậm ở những bệnh nhân này.

Insulin và thuốc uống điều trị tiểu đường: Các thuốc chẹn bêta có thể làm tăng tác dụng hạ đường huyết của insulin hoặc các thuốc uống điều trị tiểu đường. Carvedilol có thể làm giảm hoăc che lấp các dấu hiệu của hạ đường huyết (đặc biệt là tim đập nhanh), ở bệnh nhân sử dụng insulin hoặc các thuốc uống điều trị tiểu đường cẩn định kỳ kiểm tra nồng độ đường huyết.

Digoxin: sử dụng đồng thời các thuốc chẹn bêta và digoxin có thể làm chậm sự dẫn truyền nhĩ thất (xem mục "Cảnh báo và thận trọng").

Các thuốc chẹn kênh calci không phải dihydropyridin, amiodaron và các thuốc chống loạn nhịp khác: Sử dụng đồng thời carvedilol với verapamil, diltiazem, hoặc các thuốc chống loạn nhịp khác có thể làm tăng nguy cơ rối loạn dẫn truyền nhĩ thất. Chống chỉ định dùng đồng thời verapamil hoặc thuốc chẹn kênh calci loại diltiazem theo đường tĩnh mạch cùng với carvedilol (xem mục "Chống chỉ định" và "Cảnh báo và thận trọng").

Một số trường hợp cá biệt của rối loạn dẫn truyền (hiếm khi kèm rối loạn huyết động) đã được ghi nhận khi sử dụng đồng thời carvedilol và diltiazem. Vì vậy, cũng như với các loại thuốc khác có tác dụng chẹn bêta, cẩn theo dõi huyết áp, nhịp tim và điện tâm đồ khi sử dụng đồng thời carvedilol với các thuốc uống chẹn kênh calci loại verapamil hoặc diltiazem, amiodaron hoặc các thuốc chống loạn nhịp khác.

Clonidin: Khi sử dụng đồng thời clonidin với các thuốc chẹn bêta, có thể làm tăng tác dụng hạ huyết áp và chậm nhịp tim. Khi kết thúc điều trị kết hợp các thuốc chẹn bêta và clonidin nên ngừng điều trị các thuốc chẹn bêta trước. Vài ngày sau đó có thể giảm dần liều clonidin để ngừng thuốc (xem mục "Cảnh báo và thận trọng").

Các thuốc chống tăng huyết áp: Cũng như với các thuốc chẹn bêta khác, carvedilol có thể tăng cường tác dụng của các thuốc chống tăng huyết áp khác khi sử dụng đồng thời (ví dụ thuốc đối kháng thụ thể alpha 1) hoặc gây hạ huyết áp như la tác dụng phụ của thuốc.

Thuốc gây mê: Trong khi gây mê, cần theo dõi cẩn thận các dấu hiệu sinh tổn do khả năng xuất hiện giảm lực co cơ do tác dụng hiệp đồng giữa carvedilol và các thuốc gây mê (xem mục "Cảnh báo và thận trọng").

Các thuốc chống viêm không steroid: Sử dụng đồng thời các thuốc chống viêm không steroid và các thuốc chẹn beta có thể làm tăng huyết áp và giảm tác dụng kiểm soát huyết áp của carvedilol.

Các thuốc giãn phế quản chủ vận bêta: Các thuốc chẹn bêta không chọn lọc trên tim có thể đối kháng tác dụng của các thuốc giãn phế quản chủ vận bêta. Cẩn theo dõi sát bệnh nhân (xem mục "Cảnh báo và thận trọng").

Tính tương kỵ:

Không áp dụng.

7. Dược lý

- Dược động học (Tác động của cơ thể với thuốc)

Hấp thu:

Carvedilol, được hấp thu nhanh chong từ đường tiêu hóa. Thuốc được chuyển hóa ban đầu mạnh tại gan, do đó sinh khả dụng qua đường uống vào khoảng 25%. Nóng độ đỉnh trong huyết thanh đạt được khoảng 1 giờ sau khi uống thuốc. Carvedilol có dược động học tuyến tính, nghĩa là nồng độ thuốc trong huyết tương tỷ lệ theo liều lượng thuốc đưa vào cơ thể. Sử dụng thuốc đồng thời với thức ăn không ảnh hưởng đến sinh khả dụng và nóng độ của thuốc trong huyết thanh, tuy nhiên có thể làm kéo dài thời gian để thuốc đạt được nồng độ đỉnh trong huyết thanh.

Phân bố:

Carvedilol là một thuốc có tính ưa mỡ cao, và được gắn vào protein huyết tương đến 98-99%. Thể tích phân bố biểu kiến vào khoảng 2 L/kg.

Chuyển hóa:

Ở người, carvedilol được biến đổi thành nhiều chất chuyển hóa; đường thải trừ chủ yếu của các chất chuyển hóa này là đường mật. Tỷ lệ chuyển hóa ban đầu tại gan sau khi uống là 60-75%.

Vòng tuần hoàn gan ruột của carvedilol được quan sát thấy ở các nghiên cứu trên động vật.

Carvedilol được chuyển hóa chủ yếu tại gan, phần lớn do quá trình liên hợp glucuronid. Quá trình khử methyl và hydroxyl hóa vòng phenol tạo ra 3 chất chuyển hóa có hoạt tính chẹn thụ thể Bêta. Kết quả nghiên cứu tiền lâm sàng cho thấy chất chuyển hóa 4'-hydroxyphenol có hoạt tính chẹn thụ thể bêta mạnh gấp 13 lần so với carvedilol. Ba chất chuyển hóa có hoạt tính có tác dụng giãn mạch yếu hơn carvedilol. Nồng độ trong huyết thanh của 3 chất có hoạt tính bằng 1 phần 10 nồng độ carvedilol. Hai chất chuyển hóa hydroxy-carbazol có tác dụng chống oxy hóa mạnh gấp 30 đến 80 lần so với carvedilol.

Các nghiên cứu dược động học ở người đã chỉ ra rằng sự chuyển hóa oxy hóa của carvedilol là chọn lọc lập thể. Kết quả của một nghiên cứu in vitro cho thấy các isoenzyme cytochrome P450 khác nhau bao gồm CYP2D6, CYP3A4, CYP2E1, CYP2C9 cũng như CYP1A2 có thể tham gia vào các quá trình oxy hóa và hydroxy hóa.

Các nghiên cứu trên người tình nguyện khỏe mạnh và bệnh nhân cho thấy đồng phân R chủ yếu được chuyển hóa bởi CYP2D6. Đồng phân S chủ yếu được chuyển hóa bởi CYP2D6 và CYP2C9.

Đa hình di truyền:

Kết quả của các nghiên cứu dược động học lâm sàng trên người cho thấy CYP2D6 đóng một vai trò quan trọng trong sự chuyển hóa của R và S-carvedilol. Do đó, nồng độ của R và S-carvedilol trong huyết tương tăng lên ở những người có CYP2D6 thấp. Tầm quan trọng của kiểu gen CYP2D6 đối với dược động học của R và S-carvedilol đã được khẳng định với các nghiên cứu dược động học dân số, trong khi các nghiên cứu khác đã không xác nhận điều này. Có kết luận rằng đa hình di truyền CYP2D6 có thể có ý nghĩa lâm sàng hạn chế.

Thải trừ:

Thời gian bán thải trung bình của carvedilol vào khoảng 6 giờ, thanh thải trong huyết tương 500-700 mL/phút. Đường bài tiết chủ yếu là đường mật, thải trừ chủ yếu qua phân. Một phần nhỏ được thải trừ qua thận dưới dạng các chất chuyển hóa.

Bệnh nhân suy thận:

Điều trị lâu dài với carvedilol không làm giảm sự tưới máu ở thận và độ lọc của tiểu cầu thận không bị thay đổi.

Giá trị AUC huyết thanh, thời gian bán thải và nồng độ đỉnh Cmax không thay đổi đáng kể ở bệnh nhân tăng huyết áp và suy thận, ở bệnh nhân suy thận, thải trừ của carvedilol qua thận giảm, nhưng các thông số dược động học chỉ thay đổi rất ít.

Carvedilol không được loại bỏ khỏi cơ thể bởi quá trình lọc máu, có thể là do thuốc gắn kết mạnh với protein huyết tương và không thể qua được màng thẩm tách.

Bệnh nhân suy gan:

Trong trường hợp suy gan nặng, sinh khả dụng của carvedilol tăng lên nhiều (đến 80%) do chuyển hóa ban đầu ở gan bị giảm. Trong bệnh xơ gan, sinh khả dụng của carvedilol cao gấp 4 lần và nồng độ đỉnh trong huyết thanh cao gấp 5 lần so với ở người khỏe mạnh. Do đó, chống chỉ định dùng carvedilol khi bị suy gan nặng. Một nghiên cứu dược động học ở bệnh nhân xơ gan cho thấy mức độ tiếp xúc (AUC) của carvedilol tăng 6,8 lần ở bệnh nhân suy gan so với những người khỏe mạnh.

Suy tim:

Trong một nghiên cứu trên 24 bệnh nhân người Nhật Bản bị suy tim, thanh thải của R và S-carvedilol thấp hơn đáng kể hơn so với ở người tình nguyện khỏe mạnh. Những kết quả này cho thấy dược động học của R và S-carvedilol thay đổi đáng kể ở bệnh nhân suy tim.

Người già

Ở bệnh nhân bị tăng huyết áp, dược động học qua carvedilol không bị ảnh hưởng bởi tuổi tác của bệnh nhân. Một nghiên cứu lâm sàng được tiến hành với thuốc gốc cho thấy chưa có sự khác biệt về các tác dụng không mong muốn xảy ra. Tương tự như thế, không có sự khác biệt về các tác dụng không mong muốn xảy ra trong một nghiên cứu lâm sàng khác được tiến hành trên người già bị bệnh mạch vành.

Trẻ em:

Khảo sát trên bệnh nhi cho thấy thanh thải tính theo cân nặng ở bệnh nhi là lớn hơn đáng kể so với người lớn.

Bệnh nhân đái tháo đường:

Các thuốc chẹn bêta có thể làm tăng đề kháng insulin và che lấp các triệu chứng hạ đường huyết. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu đã xác định các thuốc giãn mạch chẹn bêta như carvedilol mang lại các tác dụng có lợi đối với glucose và lipid. Carvedilol đã được chứng minh có tính nhạy cảm vừa phải với insulin và có thể làm giảm một số biểu hiện của hội chứng chuyển hóa.

- Dược lực học (Tác động của thuốc lên cơ thể)

Nhóm tác dụng dược lý trị liệu: thuốc chẹn alpha và bêta.

Mã ATC: C07AG02.

Cơ chế tác dụng:

Carvedilol là một thuốc chẹn thụ thể gây tiết adrenalin đa hiệu lực thuộc thế hệ thứ ba, thuốc cũng đối kháng với các thụ thể α1, β1 và β2. Carvedilol cũng có tác dụng bảo vệ các cơ quan cơ thể với tác dụng chống oxy hóa mạnh và tiêu diệt các gốc tự do. Carvedilol là một hỗn hợp racemic của 2 đồng phân lập thể. Các đồng phân R (+) và S (-) có tác dụng chẹn α1 và chống oxy hóa tương tự nhau. Carvedilol ức chế không chọn lọc thụ thể β1 và β2. tác dụng này là của đồng phân S (-). Carvedilol tự bản chất không có hoạt tính giống thần kinh giao cảm, và giống như propranolol nó có các đặc tính làm ổn định màng. Với tác dụng chẹn bêta, carvedilol ức chế hệ renin-angiotensin-aldosteron, gây giảm phóng thích renin, do đó đôi khi gây giữ nước. Carvedilol ức chế sự tăng sinh của tế bào cơ trơn trên thành mạch máu.

Trong các nghiên cứu lâm sàng, carvedilol đã được chứng minh rằng các stress do oxy hóa giảm đi ở những bệnh nhân điều trị bằng carvedilol.

Do chẹn chọn lọc thụ thể α1 nên carvedilol làm giảm sức cản của mạch máu ngoại biên. Carvedilol làm giảm sự tăng huyết áp gây nên bởi chất chủ vận thụ thể β1 phenylephrin, nhưng không có tác dụng với sự tăng huyết áp do angiotensin II.

Carvedilol không ảnh hưởng đến lipid máu. Nó không làm thay đổi tỷ lệ lipoprotein tỷ trọng cao so với lipoprotein tỷ trọng thấp (HDL/LDL).

Kết quả các nghiên cứu lâm sàng với carvedilol:

Tăng huyết áp:

Khi dùng cho bệnh nhân tăng huyết áp, carvedilol làm hạ huyết áp do sự kết hợp của chẹn thụ thể bêta và giãn mạch do chẹn thụ thể α1. Tác dụng hạ huyết áp của carvedilol không liên quan đến sự tăng tổng sức cản mạch ngoại biên của các thuốc chẹn bêta đơn thuần. Nhịp tim giảm nhẹ khi dùng thuốc. Dòng máu qua thận và chức năng thận không thay đổi ở bệnh nhân bị đau thắt ngực. Carvedilol không ảnh hưởng đến thể tích tâm thu và giảm tổng sức cản mạch ngoại biên. Nó không tác động tiêu cực tới sự tưới máu các cơ quan của cơ thể và tuần hoàn của các động mạch cung cấp máu cho các bộ phận bao gồm động mạch thận, cơ xương, cánh tay, chân, da, não cũng như động mạch cảnh. Tần suất xảy ra lạnh đầu chi và nhanh mệt mỏi khi tập thể dục thường xảy ra khi điều trị bằng các thuốc chẹn beta không có tác dụng giãn mạch giảm đi. Tác dụng lâu dài của carvedilol trong điều trị tăng huyết áp được kiểm chứng trong một số nghiên cứu lâm sàng tiến hành với thuốc gốc. Tác dụng hạ huyết áp của thuốc đạt được nhanh chóng, sau khi dùng thuốc tối đa 2-3 giờ và kéo dài trong 24 giờ. Trong điều khị kéo dài, tác dụng tối đa có thể đạt được trong vòng 3 đến 4 tuần.

Tăng huyết áp thận:

Một số nghiên cứu lâm sàng nhãn mở được tiến hành với thuốc gốc đã chứng minh rằng carvedilol có thể được sử dụng hiệu quả trong tăng huyết áp thận, suy thận mạn tính và bệnh nhân thẩm tách máu hoặc trải qua ghép thận. Carvedilol hạ huyết áp từ từ ở cả ngày chạy thận và ngày nghỉ chạy thận và hiệu quả hạ huyết áp của nó tương tự như ở bệnh nhân có chức năng thận bình thường.

Trên cơ sở kết quả của các nghiên cứu so sánh ở những bệnh nhân lọc máu, có thể kết luận rằng carvedilol hiệu quả hơn và được dung nạp tốt hơn các thuốc chẹn kênh calci.

Bệnh mạch vành:

Ở bệnh nhân có bệnh mạch vành, carvedilol có tác dụng chống thiếu máu cục bộ và chống đau thắt ngực, điều này có thể được kiểm chứng trong khi điều trị lâu dài. Trong các nghiên cứu huyết động cấp tính, carvedilol làm giảm đáng kể nhu cầu oxy của cơ tim và sự hoạt động quá mạnh của thần kinh giao cảm. Carvedilol làm giảm tiền gánh (áp lực động mạch phổi, áp lực mao mạch phổi) và cả hậu gánh (tổng sức cản ngoại vi).

Suy tim mạn tính:

Trong các nghiên cứu lâm sàng được tiến hành với thuốc gốc ở bệnh nhân suy tim mạn tính, carvedilol làm giảm đáng kể tỷ lệ tử vong do các nguyên nhân khác nhau và tần suất nhập viện. Trong nghiên cứu COPERNICUS, carvedilol đã được chứng minh có hiệu quả và được dung nạp tốt kể cả ở bệnh nhân suy tim nặng. Carvedilol làm tăng phân suất tống máu và giảm bớt triệu chứng của suy tim mạn do hoặc không do thiếu máu cục bộ. Tác dụng của carvedilol đã được chứng minh phụ thuộc vào liều dùng. Trong nghiên cứu COMET, sử dụng carvedilol như là một phần của trị liệu chuan cho kết quả là làm giảm tỷ lệ tử vong nhiều hơn đáng kể so với thuốc đối chứng metoprolol.

Suy thận:

Carvedilol làm giảm tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong ở những bệnh nhân lọc máu bị giãn cơ tim. Một phân tích tổng hợp các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng giả dược (được tiến hành với thuốc gốc) bao gồm một số lượng lớn bệnh nhân (> 4000) có bệnh thận mạn tính mức độ nhẹ đến trung bình cho thấy điều trị bằng carvedilol ở bệnh nhân có rối loạn chức năng thất trái có hoặc không có suy tim có triệu chứng làm giảm tỷ lệ của các biến cố của tất cả các nguyên nhân gây tử vong cũng như suy tim.

Suy thất trái sau nhồi máu cơ tim cấp:

Trong một nghiên cứu mù đôi có kiểm soát giả dược được tiến hành trên 1959 bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim có phân suất tống máu thất trái ≤ 40 % hoặc chỉ số vận động thành ≤ 1,3 (có hoặc không có triệu chứng suy tim). Trong nghiên cứu này, carvedilol không gây giảm đáng kể có ý nghĩa thống kê một trong các chỉ số chính, tổng tỷ lệ tử vong hoặc nhập viện do các nguyên nhân tim mạch (giảm 8% so với giả dược, p-0,297), nhưng gây giảm đáng kể 23% tổng tỷ lệ tử vong, giảm 29% tổng tỷ lệ tử vong hoặc tai biến sau nhồi máu cơ tim không tử vong, giảm 25 % (p=0,024) tỷ lệ tử vong do tim mạch và giảm 41% tỷ lệ nhập viện do nhồi máu cơ tim không tử vong. Một phân tích bổ sung cho thấy carvedilol làm giảm đáng kể 17% (p-0,019) các trường hợp tử vong hoặc phải nhập viện do các vấn đề tim mạch nguy hiểm.

8. Thông tin thêm

- Đặc điểm

Viên nén Talliton 12,5 mg: màu cam nhạt, tròn, dẹp, cạnh xiên. Một mặt khắc chữ E 342, mặt kia có vạch khía. Vạch khía này chỉ giúp bẻ viên thuốc nhỏ ra cho dế nuốt, không dùng để chia thành 2 liều bằng nhau.

- Bảo quản

Bảo quản ở nhiệt độ dưới 30°C, tránh ẩm.

Không dùng thuốc sau ngày hết hạn ghi trên nhãn.

Để xa tầm tay trẻ em.

Không dùng viên nén Talliton nếu bạn nhận thấy có bắt kỳ dấu hiệu nào của sự suy giảm chất lượng (ví dụ biến màu).

Không vứt thuốc vào rác thải và nước thải gia đình. Hỏi dược sỹ cách hủy bỏ các thuốc không còn dùng đến. Điều này sẽ giúp bảo vệ môi trường.

- Quy cách đóng gói

Hộp 2 vỉ x 14 viên.

- Hạn dùng

36 tháng kể từ ngày sản xuất.

- Nhà sản xuất

Egis Pharmaceuticals PLC.

doctor
Thẩm định nội dung bởi

Dược sĩ Đại học Lương Bảo Khánh Linh

  • Chuyên khoa: Dược
  • Tốt nghiệp Khoa Dược tại trường Đại học Nguyễn Tất Thành. Có 3 năm kinh nghiệm công tác trong lĩnh vực tư vấn Dược phẩm. Hiện đang là quản lý tại nhà thuốc An Khang.

Tờ hướng dẫn sử dụng

talliton-125mg-h-28v-hdsd-0.jpg
talliton-125mg-h-28v-hdsd-1.jpg