- Thận trọng khi sử dụngTác dụng ức chế miễn dịch/ Tăng nhạy cảm với nhiễm trùng - Corticoid có thể làm tăng nhạy cảm với nhiễm trùng, có thể che dấu một số dấu hiệu của nhiễm trùng và nhiễm trùng mới có thể xuất hiện khi dùng thuốc. Ức chế đáp ứng viêm và chức năng miễn dịch làm tăng nhạy cảm với nhiễm trùng do nấm, virus và vi khuẩn và mức độ nghiêm trọng của chúng. Biểu hiện lâm sàng có thể thường không điển hình và có thể đạt đến giai đoạn tiến triển trước khi được phát hiện.
- Người đang dùng các thuốc ức chế hệ miễn dịch nhạy cảm hơn với nhiễm trùng so với người bình thường. Như bệnh sởi và thủy đậu, có thể nghiêm trọng hơn hoặc thậm chí gây tử vong ở trẻ em hoặc người lớn không có miễn dịch đang dùng corticosteroid.
- Thủy đậu là một mối lo ngại nghiêm trọng vì bệnh thường nhẹ này có thể gây tử vong ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch. Bệnh nhân (hoặc cha mẹ của trẻ) chưa từng bị thủy đậu nên được khuyên tránh tiếp xúc với người bị thủy đậu hoặc Herpes zoster và nếu bị phơi nhiễm, họ cần được chăm sóc y tế ngay. Cần chủng ngừa thụ động với kháng thể varicella/ zoster (VZIG) cho bệnh nhân không có miễn dịch đang sử dụng hoặc đã sử dụng corticoid trong vòng 3 tháng. Nếu có chẩn đoán bị thủy đậu, bệnh nhân cần được chăm sóc chuyên khoa và điều trị khẩn cấp. Không nên ngưng corticosteroid và có thể cần tăng liều.
- Tránh phơi nhiễm bệnh sởi. Khuyến cáo bệnh nhân tìm kiếm hỗ trợ y tế ngay nếu bị phơi nhiễm. Có thể cần điều trị dự phòng bằng kháng thể tiêm bắp thông thường.
- Corticosteroid cũng nên được sử dụng rất thận trọng ở những bệnh nhân nhiễm hoặc nghi ngờ nhiễm ký sinh trùng như Strongyloides (giun lươn), có thể gây tăng nhiễm và lan tỏa Strongyloides với sự di chuyển ấu trùng lan rộng, thường kèm theo viêm ruột nặng và nhiễm trùng huyết gram âm có thể gây tử vong.
- Chống chỉ định dùng vắc xin sống hoặc vắc xin sống giảm độc lực ở bệnh nhân đang dùng corticosteroid ở liều ức chế miễn dịch. Các đáp ứng kháng thể với các kháng sinh khác có thể bị giảm bớt.
- Sử dụng corticoid ở bệnh nhân bị lao thể hoạt động nên được hạn chế ở những trường hợp lao cấp tính hoặc lan tỏa, trong đó corticosteroid được dùng phối hợp với một phác đồ kháng lao thích hợp. Nếu corticosteroid được chỉ định cho bệnh nhân lao tiềm ẩn hoặc có phản ứng tuberculin, cần theo dõi chặt chẽ vì có thể tái kích hoạt bệnh. Cần điều trị dự phòng khi dùng corticosteroid kéo dài trên những đối tượng này.
- Đã có báo cáo sarcom kaposi xảy ra ở những bệnh nhân điều trị với corticosteroid. Ngưng corticosteroid có thể làm thuyên giảm bệnh trên lâm sàng.
- Vai trò của corticoid trong sốc nhiễm trùng vẫn đang gây tranh cãi, cả tác dụng có lợi và có hại đã được báo cáo trong những nghiên cứu ban đầu. Bổ sung corticosteroid được cho là có lợi ở những bệnh nhân sốc nhiễm trùng bị suy tuyến thượng thận. Tuy nhiên, không khuyến cáo sử dụng thường quy trong sốc nhiễm trùng. Các nghiên cứu cho thấy không nên dùng corticoid liều cao trong thời gian ngắn. Tuy nhiên sử dụng corticosteroid liều thấp trong thời gian dài (5 - 11 ngày) có thể làm giảm tỷ lệ tử vong.
Hệ miễn dịch Do có thể xảy ra (hiếm gặp) dị ứng trên da và phản ứng phản vệ/ sốc phản vệ khi dùng corticosteroid, cần thực hiện các biện pháp phòng ngừa thích hợp trước khi sử dụng, đặc biệt là ở những bệnh nhân có tiền sử dị ứng với bất cứ thuốc nào. Tác dụng trên nội tiết - Ở những bệnh nhân điều trị bằng corticosteroid bị căng thẳng bất thường, chỉ định tăng liều corticosteroid tác dụng nhanh trước, trong và sau tình trạng căng thẳng.
- Khi điều trị kéo dài, teo vỏ thượng thận có thể xảy ra và tồn tại nhiều tháng sau khi ngưng điều trị. Bệnh nhân dùng corticosteroid toàn thân cao hơn liều sinh lý (khoảng 6 mg methylprednisolon) trong hơn 3 tuần không nên ngừng thuốc đột ngột. Việc giảm liều phụ thuộc phần lớn vào việc bệnh có thể tái phát hay không khi giảm liều corticosteroid toàn thân. Cần đánh giá tình trạng bệnh trên lâm sàng trong quá trình ngưng thuốc. Nếu bệnh không có khả năng tái phát khi ngưng corticosteroid toàn thân, nhưng không chắc chắn về việc ức chế HPA (trục dưới đồi - tuyến yên - thượng thận), liều corticosteroid có thể được giảm nhanh đến liều sinh lý. Khi đạt tới liều methylprednisolon 6 mg/ ngày, việc giảm liều nên được hiện chậm hơn để phục hồi trục HPA.
- Ngưng đột ngột corticosteroid toàn thân, sau khi đã dùng liên tục ≤ 3 tuần, chỉ khi xác định bệnh không có khả năng tái phát. Ngưng đột ngột sau khi dùng liều lên đến 32 mg/ ngày methylprednisolon trong 3 tuần không thể gây ức chế trục HPA trên lâm sàng trong đa số bệnh nhân. Trên những đối tượng sau đây, nên ngưng thuốc từ từ cả khi điều trị ≤ 3 tuần:
- Đã dùng nhiều đợt lặp lại corticosteroid toàn thân, đặc biệt là khi dùng trên 3 tuần.
- Dùng một đợt ngắn hạn trong vòng 1 năm sau khi ngưng điều trị kéo dài (nhiều tháng hoặc nhiều năm).
- Có nguy cơ bị suy vỏ thượng thận ngoài việc điều trị bằng corticosteroid ngoại sinh. Ngoài ra, suy thượng thận cấp tính có thể gây tử vong nếu ngưng đột ngột glucocorticoid.
- Dùng corticosteroid toàn thân với liều hàng ngày trên 32 mg methylprednisolon.
- Bệnh nhân dùng thuốc vào buổi tối lặp lại nhiều lần.
- Khi bị suy thượng thận do thuốc, có thể giảm tiết mineralocorticoid, do đó nên dùng đồng thời muối và/ hoặc một mineralocorticoid.
- Hội chứng ngưng thuốc do steroid (dường như không liên quan đến suy vỏ thượng thận) cũng có thể xảy ra sau khi ngưng glucocorticoid đột ngột. Triệu chứng gồm: Chán ăn, buồn nôn, nôn, hôn mê, đau đầu, sốt, đau khớp, bong da, đau cơ, giảm cân, và/ hoặc hạ huyết áp. Ảnh hưởng này được cho là do thay đổi đột ngột nồng độ glucocorticoid hơn là do nồng độ corticosteroid thấp.
- Glucocorticoid có thể gây ra hoặc làm nặng thêm hội chứng Cushing, do đó, tránh dùng glucocorticoid ở bệnh nhân Cushing.
- Thận trọng và theo dõi thường xuyên khi cân nhắc sử dụng corticosteroid toàn thân ở bệnh nhân suy giáp.
Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng - Các corticosteroid, bao gồm methylprednisolon, có thể làm tăng glucose huyết, làm trầm trọng thêm bệnh đái tháo đường hiện có, gây đái tháo đường khi điều trị kéo dài.
- Thận trọng và theo dõi thường xuyên khi dùng corticosteroid toàn thân ở bệnh nhân đái tháo đường (hoặc có tiền sử gia đình bị đái tháo đường).
Tác dụng trên tâm thần - Sử dụng steroid toàn thân có thể gây tác dụng không mong muốn nghiêm trọng trên tâm thần. Triệu chứng thường xuất hiện trong vòng vài ngày hoặc vài tuần đầu điều trị. Nguy cơ có thể cao hơn khi dùng liều cao/ phơi nhiễm toàn thân, tuy nhiên không thể dự đoán được sự khởi phát, loại, mức độ nghiêm trọng hoặc thời gian kéo dài của ảnh hưởng dựa vào liều. Hầu hết đều hồi phục sau khi giảm liều hoặc ngưng điều trị, tuy nhiên thể cần tiến hành các biện pháp điều trị đặc hiệu.
- Khuyến cáo bệnh nhân/ người nhà liên hệ với trung tâm y tế hoặc bác sỹ nếu xuất hiện các triệu chứng tâm thần đáng lo ngại, đặc biệt là khi nghi ngờ xuất hiện tâm trạng chán nản hoặc ý nghĩ tự sát. Nên cảnh giác với các rối loạn tâm thần có thể xảy ra trong khi hoặc sau khi giảm liều/ ngưng liều steroid toàn thân.
- Thận trọng khi dùng corticosteroid toàn thân khi bệnh nhân/ người nhà đang bị hoặc có tiền sử rối loạn có ảnh hưởng nghiêm trọng, bao gồm trầm cảm hoặc hưng - trầm cảm và rối loạn tâm thần do steroid trước đó.
Tác dụng trên hệ thần kinh - Thận trọng và thường xuyên theo dõi khi dùng corticosteroid toàn thân cho bệnh nhân động kinh và nhược cơ nặng.
- Đã có báo cáo u mỡ ngoài màng cứng ở bệnh nhân dùng corticosteroid, thường với liều cao kéo dài.
Tác dụng trên mắt - Thận trọng và theo dõi thường xuyên khi sử dụng corticosteroid toàn thân ở những bệnh nhân glaucom (hoặc có tiền sử gia đình bị glaucom) và herpes simplex ở mắt do nguy cơ thủng giác mạc.
- Sử dụng kéo dài glucocorticoid có thể gây đục thủy tinh thể dưới bao sau và đục thủy tinh thể hạt nhân (đặc biệt là ở trẻ em), lồi mắt hoặc tăng nhãn áp, có thể dẫn đến bệnh glaucom kèm tổn thương thần kinh thị giác.
- Nguy cơ nhiễm trùng nấm và virus thứ cấp ở mắt có thể tăng lên ở khi dùng glucocorticoid. Đã có báo cáo corticosteroid gây bệnh màng mạch - võng mạc, có thể dẫn đến bong võng mạc.
Các biến cố trên tim - Corticosteroid có thể gây các tác dụng không mong muốn trên hệ tim mạch, như rối loạn lipid huyết và tăng huyết áp (yếu tố nguy cơ biến cố trên tim). Thận trọng và tăng theo dõi trên tim mạch nếu cần, đặc biệt khi điều trị kéo dài. Điều trị liều thấp và cách nhật có thể làm giảm nguy cơ gặp phải các biến chứng khi điều trị với corticosteroid.
- Thận trọng và chỉ dùng corticosteroid toàn thân khi thật sự cần thiết ở bệnh nhân suy tim sung huyết.
- Thận trọng và theo dõi thường xuyên khi dùng corticosteroid toàn thân ở bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim gần đây (đã có báo cáo vỡ tim).
- Thận trọng khi dùng các thuốc có tác dụng trên tim như digoxin vì steroid có thể gây rối loạn điện giải/ mất kali.
Tác dụng trên mạch máu - Thận trọng và theo dõi thường xuyên khi dùng corticosteroid toàn thân ở bệnh nhân: Tăng huyết áp, có nguy cơ bị viêm tĩnh mạch huyết khối.
- Huyết khối bao gồm huyết khối tĩnh mạch đã được báo cáo với corticosteroid. Thận trọng khi dùng corticosteroid cho bệnh nhân có/có thể có nguy cơ rối loạn huyết khối tắc mạch.
Tác dụng trên đường tiêu hóa - Liều cao corticosteroid có thể gây viêm tụy cấp.
- Thận trọng và theo dõi thường xuyên khi dùng corticosteroid toàn thân ở bệnh nhân: Loét dạ dày - tá tràng, mới nổi ruột non, áp xe hoặc nhiễm trùng sinh mủ khác, viêm loét đại tràng, viêm túi thừa.
- Liệu pháp glucocorticoid có thể che lấp viêm phúc mạc hoặc các dấu hiệu hoặc triệu chứng khác liên quan rối loạn đường tiêu hóa như thủng, tắc hoặc viêm tụy. Dùng phối hợp với NSAIDs có thể làm tăng nguy cơ viêm loét đường tiêu hóa.
Tác dụng trên gan - mật Thận trọng và theo dõi thường xuyên khi dùng corticosteroid toàn thân ở bệnh nhân suy gan hoặc xơ gan. Hiếm khi có các rối loạn gan mật được báo cáo, đa số các trường hợp hồi phục sau khi ngưng điều trị. Do đó, cần theo dõi thích hợp. Tác dụng trên cơ - xương - khớp - Đã có báo cáo bệnh cơ cấp tính khi dùng liều cao corticosteroid, thường xảy ra ở những bệnh nhân có rối loạn dẫn truyền thần kinh cơ (như nhược cơ), hoặc ở những bệnh nhân đang dùng đồng thời với các thuốc kháng cholinergic như các thuốc chẹn thần kinh cơ (ví dụ: pancuronium). Bệnh cơ cấp tính này có thể bao gồm các cơ mắt và đường hô hấp, có thể dẫn đến liệt tứ chi. Tăng creatinin kinase có thể xảy ra. Việc phục hồi hay cải thiện các tình trạng này trên lâm sàng sau khi ngưng điều trị có thể kéo dài đến hàng tuần hoặc hàng năm.
- Thận trọng và theo dõi thường xuyên khi dùng corticosteroid toàn thân ở những bệnh nhân bị loãng xương (đặc biệt là phụ nữ sau mãn kinh).
Thận - tiết niệu Thận trọng và theo dõi thường xuyên khi dùng corticosteroid toàn thân ở những bệnh nhân suy thận. Chấn thương, ngộ độc và biến chứng do cách dùng Corticosteroid toàn thân không được chỉ định, do đó không nên dùng để điều trị cho bệnh nhân bị chấn thương sọ não. Một nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tử vong tăng tại thời điểm 2 tuần và 6 tháng sau chấn thương ở bệnh nhân sử dụng natrimethylprednisolon succinat so với giả dược. Mối liên hệ nhân quả chưa được thiết lập. Khác - Các tác dụng không mong muốn có thể được giảm bằng cách dùng liều thấp nhất có hiệu quả trong thời gian ngắn nhất, và bằng cách dùng 1 lần hàng ngày vào buổi sáng hoặc bất kỳ khi nào thích hợp hoặc uống 1 lần cách nhật vào buổi sáng. Thường xuyên đánh giá lại để chỉnh liều theo tình trạng bệnh.
- Điều trị đồng thời với các thuốc ức chế CYP3A, kể cả các chế phẩm chứa cobicistat, có thể làm tăng nguy cơ gặp phải các tác dụng không mong muốn toàn thân. Tránh phối hợp trừ khi lợi ích điều trị vượt trội so với nguy cơ gặp phải các tác dụng không mong muốn do corticosteroid toàn thân, trong trường hợp này, bệnh nhân cần được theo dõi cẩn thận các tác dụng không mong muốn do corticosteroid toàn thân.
- Thận trọng khi dùng aspirin và các NSAID phối hợp corticosteroid.
- Cơn u tế bào ưa crom, có thể gây tử vong, đã được báo cáo khi dùng corticosteroid toàn thân.
- Chỉ dùng corticosteroid cho bệnh nhân nghi ngờ hoặc đã xác định bị u tế bào ưa crom sau khi đã đánh giá nguy cơ/ lợi ích hợp lý.
Trẻ em - Corticoid có thể gây chậm phát triển cho phôi thai, trẻ nhỏ và trẻ vị thành niên. Nên theo dõi cẩn thận tăng trưởng và phát triển ở trẻ em khi dùng corticosteroid kéo dài. Sử dụng liều thấp nhất trong thời gian ngắn nhất có thể. Để giảm ức chế HPA và chậm tăng trưởng, nên dùng cách nhật với liều duy nhất nếu có thể.
- Trẻ sơ sinh và trẻ em đang điều trị corticosteroid kéo dài có nguy cơ tăng áp lực nội sọ cao.
- Liều cao corticoid có thể gây viêm tụy ở trẻ em.
Người cao tuổi Tác dụng không mong muốn thường gặp của corticosteroid toàn thân có thể kèm với các hậu quả nghiêm trọng hơn ở người cao tuổi, đặc biệt là loãng xương, tăng huyết áp, hạ kali huyết, đái tháo đường, nhạy cảm với nhiễm trùng và mỏng da. Cần theo dõi lâm sàng chặt chẽ để tránh các phản ứng có thể gây tử vong cho bệnh nhân. Cảnh báo tá dược METILONE có chứa lactose. Bệnh nhân bị bệnh di truyền hiếm gặp kém dung nạp galactose, thiếu hụt Lapp lactase hoặc rối loạn hấp thu glucose-galactose không nên sử dụng. Để xa tầm tay trẻ em. - Thai kỳ và cho con búPhụ nữ mang thai - Methylprednisolon có thể qua được nhau thai. Ở người, nguy cơ sinh trẻ bị nhẹ cân có thể liên quan đến liều và có thể được giảm thiểu bằng cách dùng corticosteroid liều thấp.
- Dùng methylprednisolon ở động vật mang thai có thể gây ra bất thường trong sự phát triển của thai nhi bao gồm hở hàm ếch, tăng trưởng chậm trong tử cung và tác động đến sự tăng trưởng và phát triển của não bộ. Không có bằng chứng cho thấy corticosteroid làm tăng tỷ lệ dị tật bẩm sinh ở người. Tuy nhiên, khi dùng trong thời gian dài hoặc lặp lại trong thời gian mang thai, corticosteroid có thể làm tăng nguy cơ chậm tăng trưởng trong tử cung. Ở trẻ sơ sinh phơi nhiễm corticosteroid trước khi sinh, có thể bị giảm chức năng tuyến thượng thận, nhưng thường tự khỏi và hiếm khi có ý nghĩa lâm sàng. Cần theo dõi cẩn thận và đánh giá các dấu hiệu suy tuyến thượng thận sau khi sinh.
- Do chưa có nghiên cứu đầy đủ về sinh sản ở người và methylprednisolon, chỉ nên dùng corticosteroid trong thai kỳ sau khi đã đánh giá cẩn thận lợi ích/ nguy cơ đối với mẹ, phôi thai, thai và đứa trẻ. Tuy nhiên, nếu thật sự cần thiết, phụ nữ mang thai bình thường có thể được điều trị với corticosteroid như khi không mang thai.
- Đã có báo cáo đục thủy tinh thể ở trẻ em được sinh khi mẹ dùng corticosteroid kéo dài trong thời gian mang thai.
Phụ nữ cho con bú Corticosteroid được bài tiết một lượng nhỏ vào sữa mẹ. Tuy nhiên, với liều methylprednisolon lên đến 40 mg/ ngày không có khả năng gây ra tác dụng toàn thân cho trẻ sơ sinh. Trẻ sơ sinh có mẹ dùng liều cao hơn liều trên có thể gây ức chế tuyến thượng thận. Do các nghiên cứu đầy đủ về sinh sản trên người của glucocorticoid chưa được thực hiện, chỉ nên sử dụng thuốc này ở phụ nữ cho con bú sau khi đánh giá lợi ích vượt trội so với nguy cơ. Khả năng sinh sản Corticosteroid gây suy giảm khả năng sinh sản trong các nghiên cứu trên động vật. - Khả năng lái xe và vận hành máy mócẢnh hưởng của corticosteroid đối với khả năng lái xe và vận hành máy móc chưa được đánh giá một cách có hệ thống. Các tác dụng không mong muốn như chóng mặt, hoa mắt, rối loạn thị giác và mệt mỏi có thể gặp phải khi điều trị với corticosteroid. Nếu bị ảnh hưởng, bệnh nhân không nên lái xe hoặc vận hành máy móc. - Tương tác thuốcTương tác qua trung gian CYP3A4: - Methylprednisolon là một cơ chất và chuyển hóa chủ yếu bởi CYP3A4. CYP3A4 là enzym chính của phân họ CYP phong phú nhất trong gan người trưởng thành. Nó xúc tác 6β-hydroxyl hóa các steroid, bước chuyển hóa phase I chủ yếu cho cả corticosteroid nội sinh và tổng hợp. Nhiều hợp chất khác cũng là cơ chất của CYP3A4, một vài chất trong số đó (cũng như các thuốc khác) có thể thay đổi chuyển hóa glucocorticoid bằng cách cảm ứng (tăng hoạt tính) hoặc ức chế CYP3A4.
- Cảm ứng CYP3A4 làm tăng thanh thải và làm giảm nồng độ huyết tương của methylprednisolon, nên có thể cần tăng liều methylprednisolon để đạt được đáp ứng.
- Ức chế CYP3A4: Giảm thanh thải, và làm tăng nồng độ huyết tương nên có thể cần chỉnh liều methylprednisolon để tránh độc tính.
- Cơ chất của CYP3A4: Ảnh hưởng đến thanh thải, có thể cần phải điều chỉnh liều. Tần suất tác dụng không mong muốn có thể tăng khi dùng chung.
Chất cảm ứng CYP3A4: Thuốc kháng sinh, kháng lao như rifampin, rifabutin; Thuốc chống co giật như phenobarbital, phenytoin, primidon. Chất cảm ứng CYP3A4 (và cơ chất): Thuốc chống co giật như carbamazepin. Chất ức chế CYP3A4: - Kháng khuẩn nhóm macrolid (troleandomycin), nước bưởi chùm, thuốc chẹn calci (mibefradil), thuốc đối kháng thụ thể histamin H2 (cimetidin), chất kháng khuẩn (isoniazid).
- Methylprednisolon có thể làm tăng tốc độ acetyl hóa và độ thanh thải của isoniazid.
Chất ức chế CYP3A4 (và cơ chất): - Thuốc chống nôn (aprepitant, fosaprepitant), kháng nấm (itraconazol, ketoconazol), chẹn kênh calci (diltiazem), thuốc tránh thai đường uống (ethinylestradiol/ norethindron), thuốc ức chế miễn dịch (cilosporin), kháng khuẩn nhóm macrolid (clarithromycin, erythromycin), thuốc chống virus (thuốc ức chế HIV-protease). Ciclosprin và methylprednisolon ức chế chuyển hóa lẫn nhau làm tăng nồng độ trong huyết tương của một trong hai hoặc cả hai thuốc trên. Do đó, tần suất các tác dụng không mong muốn có thể tăng lên.
- Các thuốc ức chế protease như indinavir và ritonavir có thể làm tăng nồng độ trong huyết tương của các corticosteroid.
- Corticosteroid có thể gây ra sự chuyển hóa của các thuốc ức chế HIV-protease làm giảm nồng độ trong huyết tương của chúng.
Cơ chất CYP3A4: Thuốc ức chế miễn dịch (cyclophosphamid, tacrolimus). Tương tác không qua trung gian CYP3A4 Thuốc kháng viêm không steroid (NSAID), aspirin (acid acetylsalicylic) liều cao: - Tăng nguy cơ viêm loét và xuất huyết đường tiêu hóa khi dùng chung NSAID và methylprednisolon.
- Methylprednisolon có thể làm tăng độ thanh thải của aspirin liều cao, dẫn đến giảm nồng độ salicylat huyết thanh. Ngừng điều trị bằng methylprednisolon có thể làm tăng nồng độ salicylat huyết thanh, tăng nguy cơ ngộ độc salicylat.
Thuốc kháng cholinergic, thuốc phong bế thần kinh - cơ: - Đã có báo cáo bệnh cơ cấp tính khi dùng phối hợp liều cao corticosteroid với thuốc kháng cholinergic như thuốc phong bế thần kinh - cơ.
- Đã có báo cáo đối kháng tác dụng phong bế thần kinh - cơ của pancuronium và vecuronium ở bệnh nhân đang sử dụng corticosteroid. Tương tác này cũng có thể xảy ra với tất cả các thuốc cạnh tranh phong bế thần kinh - cơ.
Thuốc kháng cholinesterase: Steroid có thể làm tăng tác dụng kháng cholinesterase trong bệnh nhược cơ. Thuốc điều trị đái tháo đường: Corticosteroid có thể làm tăng lượng đường trong máu. Có thể cần điều chỉnh liều của các thuốc điều trị đái tháo đường. Thuốc kháng đông đường uống: Hiệu quả của thuốc kháng đông nhóm coumarin có thể tăng lên khi dùng chung với corticosteroid. Theo dõi chặt chẽ INR và thời gian prothrombin của bệnh nhân để tránh xuất huyết tự phát. Các thuốc gây hạ kali huyết: Khi dùng corticosteroid với các thuốc gây hạ kali huyết (như lợi tiểu), bệnh nhân nên được theo dõi chặt chẽ sự tiến triển của tình trạng hạ kali huyết. Nguy cơ hạ kali huyết cũng tăng lên khi dùng đồng thời corticosteroid với amphotericin B, xanthen hoặc các thuốc chủ vận beta 2. Thuốc ức chế aromatase: Aminoglutethimid: Aminoglutethimid - chất ức chế tuyến thượng thận có thể làm nặng thêm những biến đổi nội tiết do điều trị glucocorticoid kéo dài. |