Còn hàng
Mã: 101255
Thuốc này chỉ dùng theo đơn của bác sĩ. Vui lòng sao chép thông tin sản phẩm và gửi cho dược sĩ qua Zalo để được tư vấn
Khuyến mãi
Các ưu đãi khác
Hóa đơn từ 200,000đ tặng voucher trị giá 30,000đ mua sản phẩm OSTELIN 130V
Hóa đơn từ 200,000đ tặng voucher trị giá 50,000đ mua sản phẩm ENTEROGERMINA BABY COMFORT
| Mọi thông tin dưới đây đã được Dược sĩ biên soạn lại. Tuy nhiên, nội dung hoàn toàn giữ nguyên dựa trên tờ Hướng dẫn sử dụng, chỉ thay đổi về mặt hình thức. |
Trong mỗi viên Progynova 2mg chứa:
Thuốc được dùng qua đường uống.
Thuốc tránh thai hormon nên được ngừng sử dụng khi HRT được bắt đầu và bệnh nhân nên được tư vấn sử dụng các biện pháp tránh thai không hormon, nếu cần.
Một viên Progynova 2.0mg, uống hằng ngày.
Vỉ Progynova 28 viên:
Mỗi vỉ gồm 28 viên cho 28 ngày điều trị. Điều trị liên tục, có nghĩa là sau khi dùng hết vỉ cũ, dùng tiếp vỉ mới mà không có thời gian nghỉ.
Chế độ dùng kết hợp
Cách uống thuốc: nuốt nguyên viên với một ít nước.
Nên uống thuốc vào một thời gian cố định hàng ngày.
Quên uống thuốc
Trong trường hợp quên uống thuốc, cần uống ngay viên thuốc quên đó càng sớm càng tốt. Nếu hơn 24 giờ, không uống viên thuốc đã quên. Nếu quên uống vài viên thuốc, xuất huyết bất thường có thể xảy ra.
Thông tin thêm về các nhóm đối tượng đặc biệt:
- Bệnh nhân nhi
Progynova không được chỉ định cho trẻ em và trẻ vị thành niên.
- Bệnh nhân cao tuổi
Không có dữ liệu cho thấy cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân cao tuổi. Ở những phụ nữ từ 65 tuổi trở lên xin xem mục “Cảnh báo và thận trọng”.
- Bệnh nhân suy gan
Chưa có nghiên cứu riêng cho bệnh nhân suy gan. Chống chỉ định Progynova ở những phụ nữ bị suy gan nặng (xem mục Chống chỉ định).
- Bệnh nhân suy thận
Chưa có nghiên cứu riêng cho bệnh nhân suy thận. Dữ liệu hiện có không gợi ý đến sự cần thiết phải điều chỉnh liều ở nhóm đối tượng này.
Các nghiên cứu về độc tính cấp không cho thấy nguy cơ gây nên các tác dụng ngoại ý cấp tính khi sử dụng quá liều điều trị thông thường hàng ngày. Quá liều có thể gây buồn nôn và nôn và chảy máu trên vài bệnh nhân. Không có thuốc giải độc đặc hiệu và nên điều trị triệu chứng.
Không được sử dụng HRT cho các trường hợp dưới đây. Cần dừng thuốc ngay nếu xuất hiện bất kỳ hiện tượng nào được ghi dưới đây trong thời gian điều trị:
Các tác dụng không mong muốn của thuốc sau được ghi chép lại trên những người sử dụng Progynova và các thuốc HRT đường uống khác.
U tân sinh lành tính, ác tính và không xác định
Ung thư vú *, ung thư nội mạc tử cung *.
Rối loạn hệ thống miễn dịch.
Phản ứng quá mẫn, Đợt cấp của phù mạch di truyền.
Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng.
Rối loạn chuyển hóa porphyrin trầm trọng hơn, tăng hay giảm cân, tăng sự thèm ăn, giảm dung nạp carbohydrat.
Rối loạn tâm thần.
Các triệu chứng lo lắng / trầm cảm, giảm hoặc tăng ham muốn tình dục.
Rối loạn hệ thần kinh.
Đau nửa đầu, nhức đầu, chóng mặt, mệt mỏi, múa giật, đột quỵ *.
Rối loạn mắt.
Rối loạn thị giác, giảm dung nạp với kính áp tròng.
Rối loạn tim
Đánh trống ngực, nhồi máu cơ tim *.
Rối loạn mạch máu.
Tăng huyết áp, viêm tắc tĩnh mạch, huyết khối tĩnh mạch *.
Rối loạn tiêu hóa.
Rối loạn tiêu hóa, đau bụng, nôn, buồn nôn, phình hơi, đầy hơi.
Rối loạn gan mật.
Bệnh túi mật bao gồm ứ mật.
Rối loạn da và các mô dưới da.
Phát ban, các rối loạn da khác nhau (bao gồm ngứa, chàm, mày đay, mụn, rậm lông, rụng tóc, hồng ban nodosum, hồng ban đa dạng, xuất huyết phát ban, xạm da (xem mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).
Rối loạn cơ xương khớp và mô liên kết.
Chuột rút cơ bắp, đau chân.
Rối loạn thận và tiết niệu.
Triệu chứng giống viêm bàng quang.
Rối loạn hệ sinh dục và tuyến vú.
Tăng kích thước của u xơ tử cung, candida âm đạo, loét cổ tử cung, các thay đổi trong quá trình chảy máu âm đạo và chảy máu bất thường hoặc chảy thành dòng, chảy máu đột biến, chảy đốm máu (chảy máu bất thường thường giảm khi tiếp tục được điều trị), thống kinh.
Những thay đổi trong chất tiết âm đạo, hội chứng giống tiền kinh nguyệt, chất tiết ở vú, căng tức vú, lan rộng hoặc đau.
Rối loạn chung và tại vị trí sử dụng.
Phù nề.
Các phản ứng phụ khác đã được báo cáo.
Mất trí nhớ có thể xảy ra ở độ tuổi trên 65 (xem mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).
* Xin vui lòng xem thêm thông tin bên dưới.
Nguy cơ ung thư vú.
* Nguy cơ bị chẩn đoán ung thư vú tăng lên đến 2 lần được báo cáo ở phụ nữ dùng liệu
pháp kết hợp estrogen và progestagen trong hơn 5 năm.
* Bất kỳ nguy cơ nào bị tăng lên trên những người dùng liệu pháp estrogen đơn độc là thấp
hơn đáng kể so với những người dùng kết hợp estrogen và progestagen.
* Mức độ nguy cơ phụ thuộc vào thời gian sử dụng (xem mục Cảnh báo và thận trọng.
* Kết quả của thử nghiệm có đối chứng giả dược ngẫu nhiên lớn nhất (nghiên cứu WHI và nghiên cứu dịch tễ học (MWS) được trình bày dưới đây.
**Million Women Study- nguy cơ ung thư vú được đánh giá tăng thêm sau 5 năm sử dụng thuốc.**
| Tuổi | Các trường hợp tăng thêm trên 1000 người không sử dụng HRT trong hơn 5 nămᵃ | Tỉ lệ nguy cơ & 95% CI ᵇ | Các trường hợp tăng thêm trên 1000 người sử dụng hơn 5 năm (95% CI) |
|---|---|---|---|
| HRT Oestrogen đơn độc | |||
| 50 – 65 | 9 – 12 | 1,2 | 1 – 2 (0 – 3) |
| Kết hợp oestrogen-progestagen | |||
| 50 – 65 | 9 – 12 | 1,7 | 6 (5 – 7) |
ᵃ Thực hiện trên tỉ lệ mắc bệnh nền ở những nước phát triển.
ᵇ Tỉ lệ nguy cơ tổng thể. Tỉ lệ nguy cơ không hàng định nhưng sẽ tăng lên nếu tăng thời gian sử dụng.
Chú ý: Do nguy cơ mắc bệnh tăng thêm của ung thư vú khác nhau giữa các nước EU, số lượng của các trường hợp ung thư vú tăng thêm khác nhau giữa các nước EU, số lượng các trường hợp hợp tăng thêm của ung thư vú sẽ thay đổi theo tỉ lệ.
Nghiên cứu US WHI - nguy cơ ung thư vú tăng lên sau 5 năm sử dụng thuốc.
| Tuổi | Tỉ lệ mắc bệnh trên 1000 phụ nữ sử dụng giả dược trong hơn 5 năm | Tỉ lệ nguy cơ & 95% CI | Các trường tăng thêm trên 1000 người sử dụng trong hơn 5 năm (95% CI) |
|---|---|---|---|
| CEE Oestrogen đơn độc | |||
| 50 – 79 | 21 | 0,8 (0,7 – 1,0) | -4 (-6 – 0) ᵃ |
| CEE + MPA oestrogen và progestagen ᵇ | |||
| 50 – 79 | 17 | 1,2 (1,0 – 1,5) | +4 (0 – 9) |
ᵃ Nghiên cứu WHI trên phụ nữ không có tử cung, kết quả cho thấy không tăng nguy cơ của ung thư vú.
ᵇ Khi các phân tích được giới hạn trên những phụ nữ không sử dụng HRT trước đó, không có nguy cơ tăng lên rõ ràng trong 5 năm đầu điều trị. Sau 5 năm, nguy cơ tăng lên hơn so với những người không sử dụng.
Nguy cơ ung thư nội mạc tử cung
Phụ nữ sau mãn kinh có tử cung
Nguy cơ ung thư nội mạc tử cung khoảng 5 trên 1000 phụ nữ có tử cung không sử dụng HRT.
Trên những phụ nữ có tử cung, sử dụng HRT chỉ bao gồm oestrogen không được khuyến cáo bởi vì nó làm tăng nguy cơ ung thư nội mạc tử cung (xem mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).
Phụ thuộc vào thời gian sử dụng oestrogen đơn độc và liều của oestrogen, sự gia tăng nguy cơ của ung thư nội mạc tử cung trong các nghiên cứu dịch tễ thay đổi từ số trường hợp cộng thêm 5 đến 55 được chẩn đoán trên mỗi 1000 phụ nữ tuổi từ 50 đến 65.
Thêm progestogen vào phác đồ chỉ có oestrogen trong ít nhất 12 ngày mỗi chu kỳ có thể ngăn ngừa sự tăng nguy cơ này. Trong nghiên cứu Million Women Study, sử dụng 5 năm HRT kết hợp (tuần tự hoặc liên tục) không làm tăng nguy cơ ung thư nội mạc tử cung (RR 1,0 (0,8 – 1,2)).
Ung thư buồng trứng
Sử dụng dài hạn HRT oestrogen đơn độc và kết hợp oestrogen – progestogen liên quan đến sự tăng nhẹ nguy cơ ung thư buồng trứng. Trong nghiên cứu Million Women Study, 5 năm sử dụng HRT làm tăng 1 trường hợp cứ mỗi 2500 người sử dụng.
Nguy cơ huyết khối tĩnh mạch
HRT liên quan đến sự tăng nguy cơ tương đối của phát triển huyết khối tĩnh mạch (VTE) 1,3 – 3 lần, ví dụ: huyết khối tĩnh mạch sâu hoặc thuyên tắc phổi. Các biến chứng này phổ biến hơn trong năm đầu tiên sử dụng HRT (xem mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc). Kết quả của nghiên cứu WHI được thể hiện dưới đây:
Nghiên cứu WHI- nguy cơ tăng lên của huyết khối tĩnh mạch khi sử dụng thuốc hơn 5 năm
ᵃ: Nghiên cứu trên phụ nữ không có tử cung
Nguy cơ bệnh động mạch vành
Nguy cơ bệnh động mạch vành tăng nhẹ trên những bệnh nhân sử dụng kết hợp HRT oestrogen – progestogen trên bệnh nhân hơn 60 tuổi (Xem mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).
Nguy cơ đột quỵ thiếu máu cục bộ
Sử dụng phác đồ oestrogen đơn độc và phối hợp oestrogen – progestogen có liên quan đến việc tăng nguy cơ tương đối của đột quỵ do thiếu máu cục bộ lên tới 1,5 lần. Nguy cơ của đột quỵ xuất huyết không tăng lên khi sử dụng HRT.
Nguy cơ tương đối không phụ thuộc vào tuổi hoặc thời gian sử dụng, nhưng nguy cơ nên phụ thuộc mạnh vào tuổi, nguy cơ tổng thể của đột quỵ trên những phụ nữ người sử dụng HRT sẽ tăng lên theo tuổi (xem mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).
Nghiên cứu WHI- nguy cơ tăng thêm của đột quỵ do thiếu máu cục bộᵃ khi sử dụng hơn 5 năm
| Lứa tuổi (năm) | Tỉ lệ mắc bệnh trên mỗi 1000 phụ nữ trong nhóm sử dụng giả dược trong hơn 5 năm | Tỉ lệ nguy cơ & 95% CI | Các trường hợp tăng thêm trên mỗi 1000 người sử dụng trong hơn 5 năm (95% CI) |
|---|---|---|---|
| 50 – 59 | 8 | 1,3 (1,1 – 1,6) | 3 (1 – 5) |
ᵃ: Không có sự khác biệt giữa đột quỵ do thiếu máu cục bộ và xuất huyết.
Thông báo cho bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
6. Lưu ý |
- Thận trọng khi sử dụng
- Xuất hiện đau nửa đầu hoặc thỉnh thoảng hay thường xuyên đau đầu nghiêm trọng xuất hiện lần đầu hoặc các tiến triển khác báo trước nguy cơ tắc mạch não. - Sự tái phát của bệnh vàng da tắc mật hoặc ngứa do tắc mật xuất hiện lần đầu tiên khi đang mang thai hoặc sử dụng các Steroid sinh dục trước đây. - Có triệu chứng hoặc nghi ngờ tắc mạch.
Thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch
Thuyên tắc huyết khối động mạch Hai thử nghiệm lâm sàng lớn đã được tiến hành kết hợp Estrogen liên hợp (CEE) với MedroxyProgestogen Acetate (MPA), loại hormone được sử dụng trong liệu pháp hormon thay thế cho thấy khả năng tăng nguy cơ bệnh mạch vành (CHD) có thể tăng nhẹ trong năm đầu tiên sử dụng, sau đó không cho bất kỳ lợi ích nào. Thử nghiệm lâm sàng với CEE đơn thuần cho thấy khả năng giảm tỉ lệ CHD ở phụ nữ trong độ tuổi từ 50 - 59 và hoàn toàn không có lợi ích đối với tổng số người tham gia thử nghiệm. Một kết quả nữa là, trong hai thử nghiệm lâm sàng với CEE sử dụng đơn thuần hoặc kết hợp với MPA nguy cơ đột quỵ tăng từ 30% đến 40%. Người ta chưa xác định được rằng liệu những phát hiện này có liên quan đến các chế phẩm hormone thay thế khác không dùng theo đường uống hay không. Các bệnh của túi mật Estrogen được cho là làm tăng nguy cơ hình thành sỏi mật. Một số phụ nữ có khả năng mắc các bệnh về túi mật trong thời gian sử dụng liệu pháp Estrogen. Chứng mất trí Các thử nghiệm lâm sàng với các chế phẩm có chứa CEE cho thấy rất ít bằng chứng tăng nguy cơ mất trí nếu bắt đầu sử dụng liệu pháp hormon này ở những phụ nữ trên 65 tuổi. Nguy cơ này có thể giảm nếu điều trị được bắt đầu trong giai đoạn đầu của thời kỳ mãn kinh. Liệu những phát hiện này có liên quan đến các chế phẩm hormon thay thế khác hay không. Các khối u Ung thư vú
Ung thư nội mạc tử cung: Sử dụng lâu dài Estrogen làm gia tăng nguy cơ tăng sinh nội mạc tử cung hoặc ung thư nội mạc tử cung. Ung thư buồng trứng: Một nghiên cứu dịch tễ học cho thấy có sự tăng nhẹ nguy cơ gây ung thư buồng trứng ở những phụ nữ sử dụng liệu pháp hormone thay thế kéo dài (hơn 10 năm), trong khi đó một phân tích trên diện rộng tiến hành đối với 15 nghiên cứu không phát hiện thấy hiện tượng tăng nguy cơ này ở những phụ nữ sử dụng liệu pháp Estrogen thay thế. Do vậy ảnh hưởng của liệu pháp hormone thay thế đối với ung thư buồng trứng là không rõ ràng. U gan: Trong một số hiếm trường hợp đã gặp u lành tính ở gan và hiếm hơn nữa là gặp u ác tính của gan sau khi sử dụng các chế phẩm có chứa hormone có thành phần giống với Progynova. Trong một vài trường hợp cá biệt, có thể xảy ra xuất huyết trong ổ bụng đe doạ tính mạng bệnh nhân. Các bệnh lý khác:
- Động kinh. - Các bệnh lành tính ở vú. - Hen phế quản. - Đau nửa đầu. - Porphyrin niệu. - Loãng xương. - Lupus ban đỏ hệ thống. - Múa vờn nhẹ. Ở những phụ nữ mắc bệnh phù mạch do di truyền, estrogen ngoại sinh có thể gây ra hoặc làm tăng các triệu chứng phù mạch. Bệnh nhân có các vấn đề di truyền hiếm gặp như không dung nạp fructose, kém hấp thu glucose-galactose hoặc thiếu hụt enzym sucrose-isomaltase không nên dùng thuốc này. Bệnh nhân có các vấn đề di truyền hiếm gặp về không dung nạp galactose, thiếu men Lapp lactase hoặc kém hấp thu glucose-galactose không nên dùng thuốc này. - Thai kỳ và cho con búKhông dùng liệu pháp thay thế hormone cho phụ nữ có thai và cho con bú. Nếu có thai trong thời gian sử dụng Progynova, nên ngừng điều trị ngay lập tức. Một lượng nhỏ các hormone sinh dục được bài xuất vào trong sữa mẹ. - Khả năng lái xe và vận hành máy mócChưa có nghiên cứu nào về ảnh hưởng lên khả năng lái xe và vận hành máy móc được thực hiện. Chưa quan sát được ảnh hưởng nào lên khả năng lái xe và vận hành máy móc trong quá trình sử dụng thuốc. - Tương tác thuốcTương tác với các thuốc khác và các dạng tương tác khác *Chú ý*: Thông tin về các thuốc dùng kèm nên được thông báo để xác định các tương tác có thể xảy ra. Ảnh hưởng của các thuốc khác lên Progynova Các tương tác có thể xảy ra với các thuốc gây cảm ứng enzym làm tăng độ thanh thải của các hormon sinh dục và có thể làm thay đổi sự ra máu kinh và/hoặc giảm tác dụng điều trị. Các chất làm tăng độ thanh thải của hormon sinh dục (*giảm bớt tác dụng do thuốc gây cảm ứng enzym*), ví dụ: phenytoin, barbiturat, primodon, carbamazepin, rifampicin, ngoài ra còn có thể bao gồm oxcarbazepin, topiramat, felbamat griseofulvin và các chế phẩm có chứa thảo dược St.John's. Cảm ứng enzym có thể được quan sát sau vài ngày điều trị. Tác dụng cảm ứng enzym lớn nhất của thuốc này được nhận thấy trong vài tuần và có thể kéo dài đến khoảng 4 tuần sau khi ngừng thuốc. Các hoạt chất có ảnh hưởng đa dạng lên độ thanh thải của các hormon sinh dục. Khi sử dụng đồng thời với các hormon sinh dục, nhiều chất ức chế HIV/HCV protease và ức chế quá trình sao chép ngược không nucleosid có thể làm tăng hoặc giảm nồng độ estrogen huyết tương. Những thay đổi này có thể liên quan về mặt lâm sàng trong một số trường hợp. Các hoạt chất làm giảm độ thanh thải của hormon giới tính (*enzyme ức chế*). Các chất ức chế CYP3A4 mạnh hoặc trung bình như các chất kháng nấm azole (ví dụ: Fluconazole, itraconazole, ketoconazole, voriconazole), verapamil, macrolid (ví dụ: Clarithromycin, erythromycin), diltiazem và nước bưởi có thể tăng nồng độ estrogen huyết tương. Các hoạt chất phải trải qua quá trình liên hợp (ví dụ paracetamol) có thể làm tăng khả dụng sinh học của estradiol bằng khả năng ức chế cạnh tranh của hệ thống liên hợp trong quá trình hấp thu. Tương tác với rượu Sử dụng rượu trong quá trình điều trị HRT có thể dẫn đến tăng lượng estradiol tuần hoàn. Tương tác với các kết quả xét nghiệm cận lâm sàng: Sử dụng các steroid sinh dục có thể ảnh hưởng lên các kết quả của một số xét nghiệm cận lâm sàng. Sử dụng các steroid sinh dục có thể ảnh hưởng tới các chỉ số sinh hóa ví dụ gan, tuyến giáp, tuyến thượng thận và chức năng thận, hàm lượng của các protein (chất vận chuyển) trong huyết tương như các globulin gắn kết với Corticosteroids và thành phần Lipid/ Lipoprotein, các chỉ số chuyển hoá Carbonhydrate, chỉ số về đông máu và tan sợi huyết. Các thay đổi này thường duy trì trong mức giới hạn cận lâm sàng bình thường. Tính tương kỵ. Không áp dụng |
Estrogen tự nhiên và bán tổng hợp, đơn thuần
Mã ATC: G03CA03
Hấp thu
Estradiol valerate được hấp thu nhanh và hoàn toàn. Ester steroid này được tách thành acid valeric trong quá trình hấp thu và chuyển hóa đầu tiên qua gan. Cùng lúc này, Estradiol trải qua nhiều quá trình chuyển hoá sau đó, như chuyển thành Estrogen, Estriol và Estronesulfate. Chỉ có khoảng 3% Estradiol trở thành dạng có hoạt tính sinh khả dụng sau khi uống estrogen valerate. Thức ăn không làm ảnh hưởng tới tính sinh khả dụng của Estradiol.
Phân bố
Nồng độ tối đa của Estradiol trong huyết thanh xấp xỉ 15pg/mL (hoặc 30pg/mL), thông thường đạt được trong vòng 4 - 9h sau khi uống. Trong vòng 24h sau khi uống, nồng độ của Estradiol trong huyết thanh giảm xuống còn 8pg/mL (hoặc 15 pg/mL). Estradiol gắn kết với albumin và gắn kết với globulin gắn kết với hormone giới tính (SHBG). Phần Estradiol không gắn kết với protein trong huyết thanh vào khoảng 1 - 1.5% và phần Estradiol gắn kết với SHBG vào khoảng 30 - 40%.
Thể tích phân bố của Estradiol sau khi tiêm liều đơn đường tĩnh mạch là vào khoảng lL/kg.
Chuyển hoá
Sau khi Estradiol valerate ngoại sinh được tách ester, thuốc được chuyển hoá thông qua con đường biến đổi sinh học của Estradiol nội sinh. Estradiol được chuyển hoá chính ở gan, tuy nhiên nó cũng được chuyển hoá ở các cơ quan khác ngoài gan như ruột, thận, hệ xương cơ và các cơ quan đích khác. Những quá trình này tham gia vào quá trình hình thành estrone, estriol, catecholestrogen và các liên kết sulfate và glucuronide, mà có hoạt tính estrogenic yếu hay không có hoạt tính estrogenic.
Đào thải
Độ thanh thải toàn phần trong huyết thanh của Estradiol sau khi dùng một liều đơn theo đường tĩnh mạch, rất khác nhau trong khoảng từ 10 đến 30mL/phút/kg. Một lượng lớn chất chuyển hoá của Estradiol được bài xuất vào trong dịch mật và tham gia vào vòng chu trình gan - ruột.
Sự chuyển hóa của Estradiol ở giai đoạn cuối chủ yếu được bài tiết thành dạng sulphat và glucoronides trong nước tiểu.
Trạng thái ổn định
So với khi dùng một liều đơn duy nhất, nồng độ của Estradiol trong huyết tương cao hơn xấp xỉ 2 lần khi dùng nhiều liều liên tiếp. Trung bình, nồng độ của Estradiol thay đổi trong khoảng 15 (hoặc 30pg/mL) (mức tối thiểu) và 30 (hoặc 60pg/mL) (mức tối đa). Estrone, một chất chuyển hoá ít hoạt tính estrogen, đạt được nồng độ trong huyết thanh cao gấp 8 lần, Estrone sulfate đạt tới nồng độ trong huyết thanh cao hơn khoảng 150 lần. Sau khi ngừng điều trị, nồng độ của Estradiol và Estrone trở về như trước khi điều trị trong vòng 2 - 3 ngày.
Viên nén bao có màu xanh đến xanh nhạt.
Progynova được đóng trong vỉ thuốc có phần phim trong suốt được làm từ Polyvinyl chloride và phần giấy thiếc được làm từ Aluminum.
Bảo quản ở nhiệt độ phòng dưới 30°C.
2 năm kể từ ngày sản xuất.
BAYER WEIMAR GmbH und Co. KG

Dược sĩ Đại học Lương Bảo Khánh Linh
Tốt nghiệp Khoa Dược tại trường Đại học Nguyễn Tất Thành. Có 3 năm kinh nghiệm công tác trong lĩnh vực tư vấn Dược phẩm. Hiện đang là quản lý tại nhà thuốc An Khang.
Tờ hướng dẫn sử dụng
105834.jpg)
105834.jpg)