Giao tại:
Giỏ hàng

Đã thêm sản phẩm vào giỏ thuốc

Xem giỏ thuốc
Hotline (8:00 - 21:30) 1900 1572

Chọn tỉnh thành, phường xã để xem chính xác giá và tồn kho

Địa chỉ đã chọn: Thành phố Hồ Chí Minh

Chọn
Thông tin

Atenolol

Thông tin hoạt chất chỉ mang tính chất tham khảo chung. Để biết chi tiết của từng thuốc, mời bạn xem hướng dẫn sử dụng trong trang chi tiết.

Công dụng

Tăng huyết áp.

Đau thắt ngực ổn định.

Nhồi máu cơ tim: Quản lý giai đoạn cấp và dự phòng dài hạn.

Loạn nhịp tim.

Liều dùng - Cách dùng

Cách dùng

Thuốc dùng đường uống hoặc đường tĩnh mạch (tiêm tĩnh mạch, truyền tĩnh mạch).

Liều dùng

Người lớn

Tăng huyết áp, đường uống: Liều khởi đầu là 25 - 50 mg/ngày/ lần. Trong vòng 1 hoặc 2 tuần nếu vẫn chưa đạt đáp ứng tối ưu, nên tăng liều lên tới 100 mg/ngày hoặc có thể kết hợp với thuốc lợi niệu hoặc thuốc giãn mạch ngoại biên. Tăng liều quá 100 mg cũng không làm tăng hơn hiệu quả chữa bệnh.

Đau thắt ngực ổn định mạn tính, đường uống: Liều khởi đầu là 50 mg/lần/ngày. Liều thường điều chỉnh theo đáp ứng lâm sàng (nhằm duy trì nhịp tim lúc nghỉ khoảng 55 - 60 nhịp/phút). Nếu chưa đạt được đáp ứng tối ưu trong vòng 1 tuần, có thể tăng lên 100 mg/lần/ngày. Một số bệnh nhân có thể phải tăng tới 200 mg/ngày mới đạt được đáp ứng tối ưu.

Đau thắt ngực không ổn định hoặc nhồi máu cơ tim không có ST chênh: Nên bắt đầu bằng liều tiêm tĩnh mạch atenolol 5 mg trong vòng 2 - 5 phút, nhắc lại sau 5 phút cho đến khi đạt tổng liều 10 mg. Nếu bệnh nhân dung nạp với liều tiêm tĩnh mạch, có thể chuyển sang đường uống sau khi tiêm liều cuối 1 - 2 giờ.

Nhồi máu cơ tim cấp, giai đoạn sớm: Khởi đầu tiêm tĩnh mạch 2,5 - 5 mg trong vòng 2 - 5 phút. Nếu dung nạp tốt, cứ 2 – 10 phút lại thêm 2,5 – 5 mg tiêm tĩnh mạch cho đến khi đạt tổng liều 10 mg trong 10 - 15 phút. Nếu bệnh nhân dung nạp tốt với liều tiêm tĩnh mạch đạt tổng liều 10 mg sau 10 phút, có thể dùng tiếp liều uống 50 mg và nhắc lại 50 mg nữa sau 12 giờ. Liều uống được duy trì trong 6 - 9 ngày (hoặc đến khi chống chỉ định xuất hiện như nhịp chậm hoặc huyết áp hạ) với mức liều 100 mg/ngày, dùng 1 lần hoặc chia làm 2 lần.

Loạn nhịp tim: Liều khởi đầu 2,5 mg, tiêm tĩnh mạch trong 2,5 phút (tốc độ 1 mg/ phút). Có thể lặp lại liều trên sau mỗi 5 phút cho tới khi quan sát thấy đáp ứng. Tổng liều có thể tới 10 mg. Nếu truyền tĩnh mạch, có thể sử dụng liều 0,15 mg/kg truyền trong 20 phút. Có thể lặp lại liều truyền mỗi 12 giờ. Sau khi kiểm soát được nhịp bằng atenolol đường tĩnh mạch, điều trị tiếp tục bằng đường uống với liều duy trì 50 - 100 mg, 1 lần/ngày.

Người suy thận: Cần giảm liều hoặc kéo dài khoảng cách giữa các liều.

  • CIcr 15 - 35 ml/phút: Liều uống tối đa là 50 mg/ngày hoặc tiêm tĩnh mạch 2 ngày một lần liều 10 mg.
  • Clcr< 15 ml/phút: Liều tối đa là 25 mg/ngày, hoặc 50 mg uống cách ngày.
  • Bệnh nhân thẩm phân máu: 25 - 50 mg uống sau mỗi lần thẩm phân.

Trẻ em từ 12 - 18 tuổi

  • Tăng huyết áp, đường uống: 25 - 50 mg, 1 lần/ngày (hiếm khi cần đến liều cao hơn), có thể chia 2 lần.
  • Loạn nhịp, đường uống: 50 - 100 mg, 1 lần/ngày, có thể chia 2 lần.
Không sử dụng trong trường hợp sau

Chậm nhịp xoang, blốc nhĩ - thất độ II và độ III.

Sốc tim, suy tim mất bù trừ.

Bệnh u tế bào ưa crôm không được điều trị.

Hen phế quản nặng, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính nặng, hạ huyết áp, nhịp tim chậm đáng kể (<50 nhịp/phút trước khởi đầu điều trị), toan chuyển hóa, đau thắt ngực Prinzmetal, bệnh mạch máu ngoại biên nặng, hội chứng suy nút xoang.

Sử dụng đồng thời với thuốc chẹn kênh calci đường tĩnh mạch (verapamil hoặc Diltiazem) (ngoại trừ ở đơn vị hồi sức tích cực).

Phù phổi.

Thời kỳ mang thai.

Mẫn cảm với thuốc.

Lưu ý khi sử dụng

Suy tim: Atenolol chống chỉ định đối với các trường hợp suy tim mất bù, song có thể dùng một cách thận trọng đối với suy tim còn bù. Các thuốc chẹn beta có thể ức chế sự giãn cơ trơn khí quản gây ra bởi các catecholamin nội sinh, vì thế không được dùng trong hen phế quản hay bệnh phổi tắc nghẽn. Tuy nhiên, do chọn chọn lọc trên beta,, nên atenolol được dùng thận trọng với những bệnh nhân co thắt khí phế quản không đáp ứng hoặc không dung nạp với thuốc hạ huyết áp khác.

Atenolol có thể làm tăng số lượng cơn và kéo dài cơn đau thắt ngực ở bệnh nhân đau thắt ngực Prinzmetal do tác dụng co động mạch vành qua trung gian receptor α-adrenergic. Atenolol là một thuốc chẹn beta, chọn lọc, vì vậy có thể cân nhắc sử dụng mặc dù vẫn cần hết sức thận trọng.

Ngừng thuốc đột ngột có thể làm nặng thêm triệu chứng đau thắt ngực, thúc đẩy nhồi máu cơ tim và loạn nhịp thất trên những bệnh nhân có bệnh mạch vành hoặc làm nặng thêm hội chứng tuyến giáp trên những bệnh nhân nhiễm độc giáp. Vì vậy, khi đang dùng atenolol, không được ngừng thuốc đột ngột.

Những bệnh nhân có tiền sử sốc phản vệ với một số dị nguyên có thể tăng nguy cơ bị dị ứng với các dị nguyên này trong khi sử dụng các thuốc chẹn beta. Hơn nữa, sử dụng thuốc chẹn beta có thể làm tăng tần suất và mức độ sốc phản vệ. Những trường hợp này thường không đáp ứng hoặc đáp ứng nghịch thường với thuốc trị sốc phản vệ epinephrin. Khi đó, cần dùng glucagon hoặc ipratropium. Ipratropium cũng được sử dụng để điều trị co thắt khí quản trên những bệnh nhân điều trị bằng thuốc chẹn beta.

Thận trọng khi dùng đồng thời atenolol với thuốc gây mê do atenolol có thể gây giảm huyết áp mạnh, kéo dài và khó duy trì nhịp tim trong khi phẫu thuật. Tác dụng này có thể được đảo ngược bởi các thuốc chủ vận beta như dobutamin hoặc isoproterenol. Nếu có chỉ định ngừng atenolol, cần ngừng 2 ngày trước phẫu thuật. Nếu vẫn tiếp tục dùng atenolol trước và trong phẫu thuật và dùng thuốc mê làm giảm co cơ tim, cần theo dõi chặt chẽ dấu hiệu của suy tim, nếu xuất hiện các triệu chứng của cường phó giao cảm, cần cho atropin ngay lập tức.

Atenolol cần dùng thận trọng ở những bệnh nhân có hội chứng cường giáp vì có thể che lấp dấu hiệu nhịp tim nhanh do cường giáp.

Atenolol cũng phải dùng thận trọng ở những bệnh nhân đái tháo đường do thuốc có thể che lấp dấu hiệu nhịp tim nhanh do hạ Glucose huyết. Tuy nhiên, một số nghiên cứu lâm sàng cho rằng thuốc chẹn beta có thể làm giảm tỷ lệ tử vong và tại biển cho bệnh nhân đái tháo đường. Thuốc chẹn beta thường không che lấp dấu hiệu chóng mặt và đổ mồ hôi do hạ glucose huyết gây ra.

Mặc dù chống chỉ định sử dụng atenolol trên bệnh nhân rối loạn tuần hoàn động mạch ngoại vi nặng, thuốc có thể làm nặng thêm các rối loạn tuần hoàn động mạch ngoại vi mức độ ít nghiêm trọng hơn (hội chứng Raynaud, chứng đau cách hồi).

Atenolol cũng cần dùng thận trọng và phải giảm liều ở những bệnh nhân suy thận, đặc biệt khi Clcr < 35 ml/phút/1,73 m2. Dùng atenolol sau khi thẩm tách máu cần phải được giám sát chặt chẽ vì có nguy cơ làm giảm huyết áp.

Sử dụng thận trọng atenolol ở bệnh nhân cao tuổi, nên khởi đầu với liều thấp hơn.

Tác dụng không mong muốn

Atenolol dung nạp tốt. ADR liên quan đến tác dụng dược lý và liều dùng của thuốc.

Thường gặp

Toàn thân: mệt mỏi, lạnh và ớn lạnh các đầu chi, toát mồ hôi.

Tuần hoàn: chậm nhịp tim, blốc nhĩ thất độ 2, 3 và giảm huyết áp. Tiêu hóa: tiêu chảy, buồn nôn.

Ít gặp

Rối loạn giấc ngủ.

Tăng enzym gan.

Hiếm gặp

Huyết học: ban xuất huyết, giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu.

Tâm thần: rối loạn tâm trạng, trầm loạn thần, do giác cảm, lo lắng, ác mộng, lú lẫn,

TKTW: chóng mặt, đau đầu, dị cảm các chi.

Mắt: khô mắt, rối loạn thị giác.

Tim mạch: trầm trọng thêm bệnh suy tim, khởi phát blốc tim.

Mạch máu: hạ huyết áp tư thế đứng có thể kèm ngất, xuất hiện đau cách hồi hoặc đau cách hồi trầm trọng hơn trên bệnh nhân có hội chứng Raynaud.

Hô hấp: co thắt phế quản trên bệnh nhân có hen phế quản hoặc có tiền sử hen phế quản.

Tiêu hóa: khô miệng.

Gan mật: ứ mật.

Da và mô dưới da: rụng tóc, phản ứng giống vảy nến, trầm trọng thêm bệnh vảy nến, phát ban da.

Sinh dục: bất lực/thiểu năng tình dục.

Chưa xác định được tần suất

Hội chứng giống lupus, tăng mẫn cảm bao gồm phù mạch, mề đay.

Hướng dẫn cách xử trí ADR

Nếu xuất hiện các ADR mức độ nhẹ chỉ cần giảm liều thuốc. Nếu xuất hiện các ADR nặng sau uống thuốc 1 giờ, trước tiên phải rửa dạ dày. Tụt huyết áp mức độ vừa thì chỉ cần truyền dịch, nếu tụt huyết áp vẫn tiếp tục thi truyền glucagon tĩnh mạch và có thể phối hợp với các thuốc giống giao cảm (isoprenalin).

Nhịp chậm mức độ nặng thì cần tiêm tĩnh mạch atropin, các thuốc giống giao cảm hoặc tạo nhịp tim tạm thời.

Co thắt phế quản có thể cho các thuốc chủ vận thụ thể beta, hoặc các xanthin. Trong trường hợp quá liều nặng có thể cho thẩm phân máu.

Tác dụng thuốc khác

Phối hợp amiodaron với atenolol có tác dụng cộng hưởng trên điều nhịp, làm nặng thêm chậm nhịp tim và có thể gây ngừng tim.

Atenolol có tác dụng hiệp đồng và làm tăng tác dụng hạ huyết áp của các thuốc hạ áp khác như chẹn kênh calci (verapamil, diltiazem, nifedipin, amlodipin…), hydralazin, methyldopa. Tác dụng này thường có lợi trong điều trị nhưng cần kiểm soát liều chặt chẽ. Nên tránh phối hợp thuốc chẹn beta với verapamil tiêm tĩnh mạch vì có thể làm nặng thêm tình trạng chậm nhịp tim và block tim.

Dùng cùng reserpin có thể làm tăng tác dụng giảm huyết áp và chậm nhịp tim của atenolol do tác dụng hủy catecholamin của reserpin.

Atenolol làm trầm trọng hiện tượng phục hồi tăng huyết áp do ngừng đột ngột clonidin, do đó trên bệnh nhân dùng phối hợp atenolol với clonidin, cần ngừng atenolol vài ngày trước khi ngừng clonidin.

Các thuốc chẹn beta dùng cùng các thuốc chẹn a-adrenergic (như prazosin, terazosin, trimazosin, doxazosin…) có thể làm nặng thêm tình trạng hạ huyết áp liều đầu của các các thuốc chẹn alpha. Các thuốc chẹn beta và digoxin đều làm chậm dẫn truyền nhĩ thất và giảm nhịp tim khi dùng kết hợp có thể làm tăng nguy cơ chậm nhịp.

Các thuốc ức chế cyclooxygenase (như indomethacin) có thể làm giảm tác dụng hạ áp của các thuốc chẹn beta, tuy nhiên chưa có đủ dữ liệu lâm sàng về tương tác bất lợi của các thuốc này, đặc biệt tương tác với aspirin. Vẫn có thể dùng phối hợp các thuốc này một cách an toàn và hiệu quả trong bệnh lý mạch vành.

Với quinidin và các thuốc chống loạn nhịp tim nhóm 1, có thể xảy ra tác dụng hiệp đồng làm tăng tác dụng chậm nhịp tim và hạ huyết áp.

Với insulin hoặc các thuốc uống chống đái tháo đường, atenolol có thể che lấp chứng nhịp tim nhanh do hạ glucose máu.

Phụ nữ có thai và cho con bú

Thời kỳ mang thai

Atenolol có thể qua được nhau thai và có thể gây hại cho thai nhi khi sử dụng trong thai kỳ. Chưa có nghiên cứu về ảnh hưởng của thuốc khi sử dụng trong 3 tháng đầu thai kỳ, vì vậy chưa thể loại trừ được nguy cơ. Dùng atenolol trong 3 tháng giữa thai kỳ có liên quan đến tình trạng thai nhỏ hơn so với tuổi thai.

Atenolol đã được sử dụng hiệu quả trên một số lượng giới hạn phụ nữ mang thai, khi có sự giám sát chặt chẽ, trong điều trị tăng huyết áp ở 3 tháng cuối thai kỳ. Tuy nhiên sử dụng kéo dài trong điều trị tăng huyết áp mức độ nhẹ - trung bình trên phụ nữ mang thai có liên quan đến tình trạng chậm phát triển của thai nhi trong tử cung. Dùng thuốc chẹn beta cho phụ nữ sắp sinh có thể gây chậm nhịp tim, giảm glucose huyết ở trẻ sơ sinh.

Thời kỳ cho con bú

Atenolol bài tiết vào sữa mẹ với tỷ lệ gấp 1,5 - 6,8 lần so với nồng độ thuốc trong huyết tương người mẹ. Đã có những thông báo về ADR của thuốc đối với trẻ em bú mẹ khi người mẹ dùng atenolol, như chậm nhịp tim hoặc giảm glucose huyết có ý nghĩa lâm sàng.

Nhà sản xuất khuyến cáo cần sử dụng thận trọng atenolol trên phụ nữ cho con bú. Trẻ đẻ non, hoặc trẻ suy thận có thể dễ mắc các ADR hơn. Nếu cần dùng atenolol trong thời kỳ cho con bú, cần theo dõi chặt chẽ các ADR toàn thân của thuốc trên trẻ. Thay vào đó, có thể cân nhắc dùng các thuốc chẹn beta khác mà bài tiết vào sữa mẹ ít hơn.

Quá liều

Quá liều có thể xảy ra đối với những người dùng phải một liều cấp từ 5 gam trở lên.

Hội chứng thường gặp do dùng atenolol quá liều là: ngủ lịm, rối loạn hô hấp, thở khò khè, ngừng xoang, chậm nhịp tim, hạ huyết áp, co thắt phế quản...

Điều trị quá liều cần nhằm loại bỏ thuốc chưa được hấp thu bằng gây nôn, rửa dạ dày hoặc uống than hoạt trong vòng 1 giờ sau khi uống thuốc. Atenolol có thể được loại bỏ khỏi tuần hoàn chung bằng thẩm tách máu. Những cách điều trị khác cần theo quyết định của thầy thuốc bao gồm:

Chậm nhịp tim: Atropin tiêm tĩnh mạch trong trường hợp có blốc nhĩ thất độ II hoặc III. Trong trường hợp không có đáp ứng, có thể dùng isoproterenol một cách thận trọng. Trong trường hợp kháng trị, có thể chỉ định dùng máy tạo nhịp tạm thời qua tĩnh mạch.

Suy tim: Dùng digitalis, thuốc lợi tiểu là cần thiết. Glucagon tiêm tĩnh mạch cũng có thể được sử dụng.

Hạ huyết áp: Dùng chất co mạch như dobutamin, dopamin, adrenalin hoặc noradrenalin và liên tục theo dõi huyết áp. Nếu huyết áp vẫn tiếp tục giảm và không đáp ứng với các chất co mạch thì truyền tĩnh mạch glucagon là cần thiết

Co thắt phế quản: Một thuốc cường beta như isoproterenol hoặc terbutalin; atropin; aminophylin tiêm tĩnh mạch hoặc ipratropim khí dung là cần thiết để kiểm soát tình trạng co thắt khí quản.

Hạ đường huyết: Có thể được truyền tĩnh mạch dung dịch glucose. Tuỳ theo mức độ nặng của triệu chứng, có thể cần chăm sóc hỗ trợ tích cực và các phương tiện hỗ trợ tim, hô hấp.

Dược lý

Atenolol là thuốc chẹn chọn lọc thụ thể beta1-adrenergic, không có hoạt tính giao cảm nội tại và đặc tính ổn định màng tế bào. Cũng như các thuốc phong bế chọn lọc thụ thể beta1-adrenergic khác, liều thấp atenolol có tác dụng ức chế chọn lọc thụ thể beta1- adrenergic trên tim mà ít tác dụng trên mạch và cơ trơn khí quản. Ở liều cao hơn (trên 100 mg/ngày), tác dụng chọn lọc này của atenolol sẽ giảm và thuốc sẽ phong bế cạnh tranh trên cả 2 thụ thể beta1 và beta2.

Bằng cách ức chế chọn lọc thụ thể beta1 trên tim, atenolol làm giảm cả tính điều nhịp lẫn tính co bóp của tế bào cơ tim. Tác dụng làm giảm tính điều nhịp ở nút xoang sẽ làm chậm nhịp xoang và tăng thời gian hồi phục (recovery time). Liều cao, atenolol có thể gây ngừng xoang, đặc biệt trên những bệnh nhân có bệnh lý về nút xoang (như hội chứng nút xoang yếu). Atenolol cũng làm giảm dẫn truyền nút nhĩ thất. Với các tác dụng trên thuốc làm giảm cung lượng tim và giảm tiêu thụ oxy cơ tim.

Atenolol được dùng để điều trị tăng huyết áp, đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim cấp, loạn nhịp thất và trên thất. Atenolol cũng được dùng để phòng ngừa chứng đau nửa đầu, hoặc kết hợp với benzodiazepin để kiểm soát hội chứng cai rượu cấp.

Dược lực học

Atenolol là thuốc chẹn chọn lọc thụ thể beta-adrenergic, không có hoạt tính giao cảm nội tại và đặc tính ổn định màng tế bào. Cũng như các thuốc phong bế chọn lọc thụ thể beta,-adrenergic khác, liều thấp atenolol có tác dụng ức chế chọn lọc thụ thể beta - adrenergic trên tim mà ít tác dụng trên mạch và cơ trơn khí quản. Ở liều cao hơn (trên 100 mg/ngày), tác dụng chọn lọc này của atenolol sẽ giảm và thuốc sẽ phong bế cạnh tranh trên cả 2 thụ thể beta1 và beta2.

Bằng cách ức chế chọn lọc thụ thể beta1 trên tim, atenolol làm giảm cả tính điều nhịp lẫn tính co bóp của tế bào cơ tim. Tác dụng làm giảm tính điều nhịp ở nút xoang sẽ làm chậm nhịp xoang và tăng thời gian hồi phục. Liều cao, atenolol có thể gây ngừng xoang, đặc biệt trên những bệnh nhân có bệnh lý về nút xoang (như hội chứng nút xoang yếu). Atenolol cũng làm giảm dẫn truyền nút nhĩ thất. Với các tác dụng trên, thuốc làm giảm cung lượng tim và giảm tiêu thụ oxy cơ tim.

Dược động học

Atenolol hấp thu nhanh nhưng không hoàn toàn. Thuốc ít chuyển hóa bước một qua gan. Sinh khả dụng đường uống khoảng 50%. Nồng độ tối đa trong huyết tương đạt được trong vòng từ 2 – 4 giờ sau khi uống và trong vòng 5 phút sau khi tiêm tĩnh mạch.

Atenolol tan chủ yếu trong nước, rất ít qua hàng rào máu - não nên ít gây rối loạn giấc ngủ hơn các thuốc chẹn beta tan trong lipid khác. Thể tích phân bổ là 0,7 lít/kg. Xấp xỉ 6 - 16% atenolol liên kết với protein huyết tương.

Atenolol chỉ được chuyển hóa một lượng nhỏ ở gan; dưới 10% liều dùng được bài tiết là chất chuyển hóa. Khoảng 40 - 50% liều dùng được bài tiết qua thận dưới dạng không thay đổi.

Nửa đời thải trừ của thuốc từ 6 - 7 giờ đối với người lớn có chức năng thận bình thường, có thể tới 16 - 27 giờ ở bệnh nhân có độ thanh thải creatinin 15 - 35 ml/phút/1,73m và tới hơn 27 giờ ở bệnh nhân có suy thận tiến triển. Nửa đời thải trừ của thuốc trong huyết tương không thay đổi trên bệnh nhân có suy giảm chức năng gan. Nửa đời của thuốc ở trẻ em ngắn hơn (khoảng 4,6 giờ) và người cao tuổi có nửa đời của thuốc dài hơn. Thuốc có thể được loại trừ ra khỏi máu bằng thẩm phân máu.

Bảo quản

Bảo quản ở nhiệt độ 20 - 25 oC, đựng trong bao bì kín, tránh ánh sáng.

Sản phẩm có chứa Atenolol

widget

Chat Zalo(8h00 - 21h30)

widget

1900 1572(8h00 - 21h30)