Giao tại:
Giỏ hàng

Đã thêm sản phẩm vào giỏ thuốc

Xem giỏ thuốc
Hotline (8:00 - 21:30) 1900 1572

Chọn tỉnh thành, phường xã để xem chính xác giá và tồn kho

Địa chỉ đã chọn: Thành phố Hồ Chí Minh

Chọn
Thông tin

Đại hồi

Thông tin hoạt chất chỉ mang tính chất tham khảo chung. Để biết chi tiết của từng thuốc, mời bạn xem hướng dẫn sử dụng trong trang chi tiết.

Tên khác
Hồi, đại hồi hương, bát giác hồi hương, đại hồi - quả, Tai vị
Công dụng

Đại hồi có tính ấm, vị cay, ngọt, mùi thơm, quy vào kinh tỳ, vị, can, thận, có tác dụng trừ đàm, khai vị, kiện tỳ, tiêu thực, giảm co bóp trong dạ dày và ruột, lợi sữa, trừ phong, giảm đau, sát trùng. Tinh dầu Hồi có tác dụng kích thích, làm dễ tiêu, chống co giật, ức chế sự lên men ruột, gây trung tiện, long đờm và lợi tiểu nhẹ.

Trong đông y, Đại hồi được dùng trong trị nôn mửa, tiêu chảy, chướng bụng, đau ruột sán khí; tiểu nhiều, đái dầm, ngộ độc thịt cá; tay chân nhức mỏi; rắn cắn. Tinh dầu Hồi trị đau bụng, dùng chữa ho, thấp khớp, đau tai, sát khuẩn, trị nấm da và ghẻ.

Liều lượng: Ngày dùng 3g - 6g dạng thuốc sắc hay ngâm rượu dùng để xoa bóp.

Kiêng kỵ: Người âm hư hỏa vượng không được dùng.

Liều dùng - Cách dùng

Ngày dùng từ 3 g đến 6 g dạng thuốc sắc, ngâm rượu dùng xoa bóp.

Không sử dụng trong trường hợp sau

Người hỏa vượng, âm hư, không được dùng.

Không sử dụng dược liệu cho người mẫn cảm hoặc dị ứng với Đại hồi.

Lưu ý khi sử dụng

Không được lạm dụng, sử dụng đúng liều lượng và thời gian quy định. Dùng quá liều có thể dẫn đến các triệu chứng ngộ độc như chóng mặt, sung huyết phổi và não, tay chân run, thậm chí là co giật và động kinh.

Phụ nữ có thai không nên dùng. Phụ nữ cho con bú cần trao đổi với bác sĩ chuyên môn hoặc thầy thuốc y học cổ truyền để được tư vấn cụ thể.

Dược lý

Kháng khuẩn

Những phát hiện gần đây đã chỉ ra rằng các chất chiết xuất từ CO2 và Ethanol siêu tới hạn của Đại hồi đã phát huy tác dụng kháng khuẩn đáng kể đối với 67 chủng phân lập kháng thuốc lâm sàng, bao gồm 27 Acinetobacter baumannii, 20 Pseudomonas aeruginosa và 20 chủng Staphylococcus aureus kháng methicillin.

Hoạt tính kháng khuẩn in vitro của dịch chiết methanol và nước sắc quả Đại hồi cũng được chứng minh là chống lại các vi khuẩn gây bệnh nha chu kỵ khí và hiếu khí tùy tiện: Porphyromonas gingivalis, Prevotella spp., Fusobacterium nucleatum, Capnocytophaga gingivalis, Veilonella parvula, Eikenella corrodens, Peptostreptococcus micros và Actinomyces odontolyticus.

Chống oxy hóa

Hoa hồi chứa tương đối ít phenolic (2,02 g axit gallic tương đương/100g trọng lượng khô) và có hoạt tính chống oxy hóa hơi thấp. Tác dụng nhặt rác của dịch chiết ethyl acetate đối với gốc tự do DPPH tăng tuyến tính khi nồng độ tăng từ 5 đến 20 mg/mL.

Hoạt động giảm đau, an thần và co giật

Chiết xuất metanol của cây hồi thể hiện tác dụng hạ nhiệt ở mức 3g/kg và ức chế quằn quại 23% ở liều uống 500mg/kg. Trong khi đó, chiết xuất etyl axetat cho thấy tình trạng hạ thân nhiệt ở liều uống 100mg/kg và sử dụng 500mg/kg gây co giật và gây độc tính chết người ở chuột. Trong số các hợp chất trong Đại hồi, veranisatin A đã được thử nghiệm thêm về tác dụng giảm đau và an thần.

Các tác dụng khác

Các tác dụng khác của Đại hồi bao gồm: Ngăn ngừa tử vong do sốc nhiễm trùng; trị bệnh lao; bảo vệ gan; chống khối u.

Bảo quản

Nơi khô thoáng, tránh nhiệt độ và độ ẩm cao. Ngoài ra, khi bảo quản cần bọc kín tránh ẩm ướt và nấm mộc phát triển.

Đặc điểm

Đặc điểm thực vật

Cây gỗ nhỡ, chiều cao trung bình 6-10m, thân và cành thẳng, thân to, nhẵn, khi non có màu lục nhạt, sau chuyển nâu xám. Lá mọc so le, có mùi thơm, phiến nguyên, dày, cứng giòn, nhẵn bóng, dài 8-12cm, rộng 3-4cm, hình mác hoặc hình trứng thuôn, hơi nhọn đầu, mặt trên xanh bóng hơn mặt dưới.

Hoa lưỡng tính mọc đơn độc ở nách lá, có khi xếp 2-3 cái; cuống to, ngắn; 5 lá đài màu trắng có mép màu hồng; 5-6 cánh hoa đều nhau màu hồng thẫm; bao phấn 1–1,5 mm, hạt phấn có ba màu. Quả kép gồm 6-8 đại hoặc hơn, xếp thành hình sao đường kính 2,5-3cm, khi non màu xanh lục sau chuyển nâu sẫm, mỗi đại dài 10-15mm, có mũi nhọn ngắn ở đầu. Lá noãn dài 10mm, hình thuyền, cứng nhăn nheo, chứa một hạt. Hạt hình trứng, nhẵn bóng.

Thu hái và chế biến

Bộ phận dùng: Quả Đại hồi và tinh dầu, đôi khi dùng cả hoa và lá.

Quả chín (từ màu lục chuyển sang màu vàng) được thu hái vào mùa thu, đông: tháng 7-9 và tháng 11-12, sau đó tách thành từng mảnh, bỏ hạt, rửa sạch, phơi trong bóng râm tới khô. Hoặc đem nhúng qua quả trong nước sôi, sấy nhẹ hoặc phơi trong bóng râm 5-6 ngày cho khô. Khi dùng tẩm rượu hoặc nước muối (cách giấy) sao qua. Tinh dầu có thể chiết xuất từ quả tươi hoặc khô.

Đặc điểm phân bố

Cây được trồng ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Quảng Ninh, Phú Thọ, Hà Giang. Ngoài ra còn có ở Trung Quốc, Philippin, Jamaica.

Sản phẩm có chứa Đại hồi

widget

Chat Zalo(8h00 - 21h30)

widget

1900 1572(8h00 - 21h30)