Nói chung
Để tránh các biến chứng tắc nghẽn thì điều quan trọng là bệnh nhân có lượng nước tiểu lớn và/ tồn dư hoặc giảm đáng kể sự lưu thông nước tiểu phải được kiểm soát cẩn thận. Có thể cần phải phẫu thuật.
Ảnh hưởng tới PSA và việc phát hiện ung thư tuyến tiền liệt
Chưa có lợi ích lâm sàng nào được thấy ở những bệnh nhân bị ung thư tuyến tiền liệt được điều trị với Finasterid. Những bệnh nhân bị tăng sản lành tính tuyến tiền liệt (BPH) và tăng kháng nguyên đặc hiệu của tuyến tiền liệt (PSA) trong huyết thanh được theo dõi trong các nghiên cứu lâm sàng có kiểm soát với các chuỗi PSA và sinh thiết tuyến tiền liệt. Trong các nghiên cứu BPH này, finasterid đã không làm thay đổi tỷ lệ phát hiện ung thư tuyến tiền liệt và không có sự khác biệt đáng kể về tổng tỷ lệ ung thư tuyến tiền liệt ở những bệnh nhân được điều trị finasterid hoặc giả dược.
Khám trực tràng bằng ngón tay, cũng như là các đánh giá khác để phát hiện ung thư tuyến tiền liệt được khuyến cáo trước khi bắt đầu điều trị với finasterid và định kỳ sau đó. PSA trong huyết thanh cũng được dùng để phát hiện ung thư tuyến tiền liệt. Nhìn chung, nền có thêm các đánh giá và xem xét về sinh thiết khi PSA cơ bản > 10 ng/ml, khi nồng độ PSA nằm trong khoảng 4-10 ng/ml thì nên có thêm các đánh giá. Có sự trùng khớp đáng kể về nồng độ PSA giữa nam giới mắc hoặc không mắc ung thư tuyến tiền liệt. Do đó, những nam giới bị BPH có giá trị PSA năm trong phạm vi tham chiếu bình thường không thể khẳng định là không bị ung thư tuyến tiền liệt, bất kể là điều trị với finasterld. PSA cơ bản < 4ng/ml không loại trừ khả năng không bị ung thư tuyến tiền liệt.
Finasterid có thể làm giảm nồng độ PSA huyết thanh khoảng 50 % ở bệnh nhân bị BHP, ngay cả khi có biểu hiện của ung thư tuyến tiền liệt. Nên xem xét việc giảm nồng độ PSA huyết thanh ở bệnh nhân mắc BHP được điều trị với finasteride khi đánh giá dữ liệu PSA và không thể loại trừ khả năng đang mắc ung thư tuyến tiền liệt. Mặc dù có sự khác nhau ở từng người, nhưng hiện tượng giảm PSA có thể dự đoán trên toàn bộ giá trị cơ bản của PSA. Những bệnh nhân được điều trị trong 6 tháng hoặc lâu hơn, giá trị PSA nên được nhân đôi để so sánh với giá trị bình thường ở bệnh nhân không dùng thuốc. Việc điều chỉnh này nhằm đảm bảo độ đặc hiệu và tính nhạy cảm của phương pháp định lượng PSA và duy trì khả năng phát hiện ung thư tuyến tiền liệt của nó. Nếu có bất kỳ hiện tượng tăng kéo dài lượng PSA nào khi đang dùng finasterid thì nên được đánh giá cẩn thận, bao gồm cả việc không tuân thủ liệu pháp điều trị với finasterid.
Tương tác giữa thuốc với các xét nghiệm trên lâm sàng
Ảnh hưởng tới nồng độ PSA
Nồng độ PSA huyết thanh tương quan với tuổi của bệnh nhân và thể tích tuyến tiền liệt, còn thể tích tuyến tiền liệt tương quan với tuổi. Khi đánh giá kết quả của PSA trong các xét nghiệm thì nên chú ý đến việc nồng độ PSA giảm ở bệnh nhân được điều trị finasterid. ở hầu hết các bệnh nhân, PSA giảm nhanh trong những tháng đầu điều trị, sau đó thì nồng độ PSA sẽ ổn định ở một giá trị cơ bản mới. Giá trị cơ bản sau điều trị khoảng 1/2 giá trị trước khi điều trị. Do đó những bệnh nhân được điều trị trong 6 tháng hoặc lâu hơn, giá trị PSA nên được nhân đôi để so sánh với giá trị bình thường ở bệnh nhân không dùng thuốc.
Tỷ lệ lượng PSA tự do và PSA toàn phần vẫn ổn định ngay cả dưới tác động của finasterid. Khi tỷ lệ PSA tự do được sử dụng như là một biện pháp bổ sung để phát hiện ung thư tuyến tiền liệt thì không cần điều chỉnh giá trị của nó.
Ung thư vú ở nam giới
Ung thư vú đã được báo cáo ở nam giới dùng finasterid trong các thử nghiệm lâm sàng và sau khi thuốc được đưa ra thị trường. Các bác sĩ nên hướng dẫn bệnh nhân báo cáo kịp thời nếu có bất kỳ thay đổi nào ở mô vú chẳng hạn như có cục u, đau, vú lo hay tiết dịch ở núm vú.
Thay đổi tâm trạng hoặc trầm cảm
Những thay đổi tâm trạng bao gồm cả tâm trạng chán nản, trầm cảm và ít gặp hơn là ý tưởng tự tử đã được báo cáo ở những bệnh nhân điều trị với finasterid. Bệnh nhân cần được theo dõi các triệu chứng tâm thần và nếu có những triệu chứng này xảy ra, thì nên tư vấn bệnh nhân là tới gặp bác sĩ.
Trẻ em
Thuốc không được dùng cho trẻ em. Độ an toàn và hiệu quả của thuốc ở trẻ em chưa được thiết lập.
Suy gan
Ảnh hưởng của suy gan tới dược động học của tìnasterid chưa được nghiên cứu.
Tá dược :
Do sản phẩm có chứa lactose monohydrat nên bệnh nhân có các rối loạn di truyền hiếm gặp về dung nạp galactose, chứng thiếu hụt lactose Lapp, hoặc rối loạn hấp thu glucose – galactose không nên sử dụng thuốc này.
Sản phẩm có chứa tá dược màu Indigo carmin lake có thể gây ra một số phản ứng dị ứng ở một vài bệnh nhân. Nên tham khảo ý kiến của Bác sĩ trước khi sử dụng nếu tiền sử đã từng có phản ứng dị ứng với indigo carmin lake.