Rất thường gặp, ADR > 1/10
Tim mạch: Phù (8 đến 19%).
TKTW: Sốt (bồn chồn, lo lắng) (11-69%), mệt mỏi (10-38%), đau (5-22%), ớn lạnh (11-19%).
Da: Phát ban (4-15%).
Tiêu hóa: Nôn và buồn nôn (1-36%), chán ăn (khoảng 34%), ỉa chảy (5-15%), chảy máu đường tiêu hóa (3-13%).
Sinh dục, tiết niệu: Nhiễm khuẩn đường niệu (2-15%).
Máu: Suy tủy (trầm trọng nhất sau 10-14 ngày, hồi phục sau 5-7 tuần, độc tính cần giảm liều), thiếu máu (14-60%), giảm bạch cầu trung tính (độ 4: 37-59%; trầm trọng sau 13 ngày), giảm tiểu cầu (17-55%, trầm trọng sau 16 ngày).
Hô hấp: Ho (< 44%), viêm phổi (3-22%), khó thở (1-22%), nhiễm khuẩn đường hô hấp trên (2-16%), viêm mũi (< 11%).
Thần kinh cơ và xương: Yếu (9-65%), đau cơ (4-16%), dị cảm (4-12%).
Mắt: Giảm thị lực (3-15%).
Khác: Nhiễm khuẩn (12-44%), toát mồ hôi (< 14%).
Thường gặp, ADR > 1/100
Tim mạch: Phù ngoại vi (< 7%), đau thắt ngực (< 6%), đau ngực (< 5%), suy tim sung huyết (< 3%), loạn nhịp tim (< 3%), tai biến mạch máu não (< 3%), nhồi máu cơ tim (< 3%), cơn nhịp nhanh kịch phát (< 3%), nghẽn mạch sâu (1-3%), viêm tĩnh mạch (1-3%), chứng phình mạch (< 1%), thiếu máu não cục bộ (< 1%).
TKTW: Đau đầu (< 9%), khó chịu (< 6-8%), rối loạn giấc ngủ (1-3%), hội chứng tiểu não (< 1%), trầm cảm (< 1%), tâm lý tốn thương (< 1%).
Da: Rụng tóc (< 3%), ngứa sần (1-3%), tiết chất nhờn (< 1%).
Nội tiết và chuyển hóa: Tăng đường huyết (1-6%), tăng LDH (< 6%), mất nước (< 1%).
Tiêu hóa: Đau bụng (< 10%), viêm miệng (< 9%), sụt cân (< 6%), viêm thực quản (< 3%), táo bón (1-3%), viêm niêm mạc (< 2%), khó nuốt (< 1%).
Sinh dục, tiết niệu: Bí tiểu (3-4%), khó tiểu (< 3%).
Máu: Xuất huyết (< 1%), hội chứng loạn sản tủy/bệnh bạch cầu cấp dòng tủy (thường liên quan đến các thuốc chống ung thư đã hoặc đang sử dụng).
Gan/mật: Sỏi mật (< 3%), rối loạn chức năng gan (1-3%), suy gan (< 1%).
Thần kinh cơ và xương: Đau lưng (< 9%), loãng xương (< 2%), đau khớp (< 1%).
Tai: Mất thính giác (2-6%).
Thận: Tiểu ra máu (2-3%), suy thận (< 1%), rối loạn chức năng thận (< 1%), protein niệu (< 1%).
Hô hấp: Viêm phế quản (< 9%), viêm hầu họng (< 9%), viêm phổi dị ứng (1-6%), ho ra máu (1 đến 6%), viêm xoang (< 5%), chảy máu cam (< 1%), thiếu oxy (< 1%).
Khác: Hội chứng giả cúm (5 đến 8%), nhiễm Herpes simplex (< 8%), quá mẫn (< 1%), hội chứng phân giải khối u (1%).
Ít gặp, ADR < 1/100
Chỉ giới hạn những ADR nguy hiểm đến tính mạng: Hội chứng suy hô hấp cấp, thở gấp, mất thị lực, mờ thị lực, xơ hóa tủy xương, hôn mê, lẫn lộn, nhìn đôi, tăng bạch cầu ái toan, nhiễm virus Epstein- Barr (EBV) liên quan đến tăng lympho, tái nhiễm virus EBV, ban đỏ đa dạng, hội chứng Evans, đau sườn, thiếu máu, tan huyết, chảy máu, viêm bàng quang xuất huyết, tái hoạt Herpes zoster, tăng kali huyết, tăng phosphat huyết, tăng urê huyết, giảm calci huyết, viêm phối kẽ, nhiễm acid chuyển hóa, nhiễm khuấn cơ hội, viêm dây thần kinh mắt, bệnh thần kinh mắt, rối loạn enzym tụy, giảm huyết cầu, bệnh mụn nước trên da, tràn dịch ngoại biên, rối loạn thần kinh ngoại biên, sợ ánh sáng (chủ yếu ở liều cao), bệnh chất trắng não đa 0 tiến triển, xơ hóa phối, thâm nhiễm phối, xuất huyết phối, suy hô hấp, liệt hô hấp, hội chứng Richter, co giật, ung thư da (khởi phát hoặc trầm trọng), hội chứng Stevens-Johnson, giảm tiểu cầu (tự miễn), giảm tiểu cầu xuất huyết (tự miễn), hoại tử biểu bì, ngừng sản sinh tủy xương ba dòng, thiếu tế bào máu tủy xương ba dòng, tinh thể uric trong nước tiểu, mất lực cố tay.
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Khi xảy ra thiếu máu tan máu tự miễn, cần phải giám sát tình trạng tan máu, ngừng dùng thuốc khi xảy ra tan máu.
Khi xảy ra xuất huyết giảm tiểu cầu/giảm tiểu cầu tự miễn, hội chứng Evans và ưa chảy máu mắc phải, giám sát tình trạng tan máu (tĩnh mạch), ngừng thuốc khi xảy ra tan máu.
Ngừng dùng thuốc hoặc tạm ngừng điều trị khi xảy ra nhiễm độc thần kinh, mức độ nghiêm trọng phụ thuộc vào liều.
Khi xảy ra suy tủy xương (giảm hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu nghiêm trọng) nguyên phát hoặc trầm trọng tình trạng trước đó, giám sát số lượng tế bào máu trước và trong khi điều trị.
Khi nhiễm khuẩn (tình trạng nguy kịch), giám sát triệu chứng và dấu hiệu nhiễm khuẩn.
Nếu xảy ra mô ghép tấn công ký chủ trong trường hợp truyền máu không chiếu xạ, khuyến cáo sử dụng máu chiếu xạ để truyền.