Giao tại:
Giỏ hàng

Đã thêm sản phẩm vào giỏ thuốc

Xem giỏ thuốc
Hotline (8:00 - 21:30) 1900 1572

Chọn tỉnh thành, phường xã để xem chính xác giá và tồn kho

Địa chỉ đã chọn: Thành phố Hồ Chí Minh

Chọn
Thông tin

Gramicidin

Thông tin hoạt chất chỉ mang tính chất tham khảo chung. Để biết chi tiết của từng thuốc, mời bạn xem hướng dẫn sử dụng trong trang chi tiết.

Tên khác
Gramicidin, Gramicidin C, Gramicidin A, Gramicidine, Gramicidin D, Gramicidina, Gramicidin B, Bacillus brevis gramicidin D
Công dụng

Điều trị các tổn thương da

Điều trị nhiễm trùng mắt: Viêm kết mạc, viêm kết mạc dị ứng, viêm kết mạc nhiễm trùng, viêm giác mạc, viêm thượng củng mạc, nhiễm trùng mắt và mí mắt, viêm mống mắt – thể mi, viêm màng bồ đào, rosacea hóa sừng, viêm kết mạc rosacea, viêm củng mạc, viêm loét giác mạc, viêm bờ mi do vi khuẩn, lẹo ở mắt, nhiễm trùng mắt bề ngoài, chàm mi mắt do nhiễm trùng.

Điều trị nhiễm trùng tai: Viêm tai ngoài, viêm tai ngoài tiết bã.

Dự phòng nhiễm khuẩn cho bệnh nhân sau phẫu thuật mắt.

Liều dùng - Cách dùng

Điều trị

Liều dùng

Nhiễm trùng mắt

Gramicidin được kết hợp với hoạt chất Framycetin và Dexamethasone trong chế phẩm thuốc nhỏ mắt với hàm lượng 0,025 mg/ ml.

Liều dùng: Nhỏ 1-2 giọt vào mắt bị tổn thương mỗi 4 giờ. Dùng trong 7-10 ngày. Trong trường hợp nhiễm trùng nặng, có thể tăng liều lên đến 2 giọt mỗi giờ.

Đối tượng người già và trẻ em không cần hiệu chỉnh liều.

Nhiễm trùng tai

Gramicidin thường được kết hợp với hoạt chất Framycetin và Dexamethasone trong chế phẩm thuốc nhỏ tai với hàm lượng 0,025 mg/ ml.

Liều lượng: Mỗi lần nhỏ 2-3 giọt. Dùng 3-4 lần mỗi ngày.

Nhiễm trùng bề mặt da

Người lớn: Bôi một lớp mỏng ở bề ngoài mặt da tổn thương.

Không sử dụng trong trường hợp sau

Người có tiền sử quá mẫn với Gramicidin.

Bệnh nhân có tình trạng nhiễm virus, nấm hoặc có mủ trong mắt.

Bệnh nhân viêm giác mạc mụn rộp.

Bệnh nhân thủng màng nhĩ.

Lưu ý khi sử dụng

Không sử dụng Gramicidin cho người có tiền sử dị ứng với Gramicidin.

Kháng sinh dùng tại chỗ có thể gây phản ứng phụ như như ngứa, đỏ và phù nề kết mạc, mi mắt.

Đối tượng phụ nữ có thai, phụ nữ đang cho con bú và trẻ em không nên sử dụng Gramicidin do chưa có đầy đủ nghiên cứu về tính an toàn của thuốc trên những đối tượng này.

Gramicidin dạng nhỏ mắt có thể gây mờ mắt thoáng qua, do đó, lưu ý khi sử dụng với người lái xe và vận hành máy móc.

Sử dụng Gramicidin lâu ngày có thể dẫn đến bội nhiễm vi khuẩn và nấm, cần tiến hành các biện pháp xử trí phù hợp.

Trong quá trình sử dụng, nếu triệu chứng không thuyên giảm, cơn đau trầm trọng hơn thì nên ngưng sử dụng sản phẩm và báo cáo ngay với bác sĩ để có biện pháp xử trí kịp thời.

Tác dụng không mong muốn

Dạng thuốc

Tác dụng phụ

Dung dịch nhỏ mắt

Kích ứng mắt, nhìn mờ, chảy nước mắt, mất thị lực.

Ngứa, sưng, ban đỏ kết mạc.

Các phản ứng quá mẫn nghiêm trọng hơn, bao gồm cả phản ứng phản vệ hiếm khi xảy ra.

Dung dịch nhỏ tai

Ù tai, mất thính lực.

Kem bôi da

Các phản ứng quá mẫn thường xảy ra chậm, có thể dẫn đến kích ứng, bỏng, ngứa, cảm giác châm chích và viêm da.

Viêm da mụn nước hoặc phát ban dát sần

Phù mạch

Mày đay

Tác dụng thuốc khác

Thuốc

Tương tác

Sphingosine, Camptothecin, Stanolone, Atorvastatin

Nồng độ trong huyết thanh của thuốc có thể tăng lên khi nó được kết hợp với Gramicidin.

Etravirine, Liotrix, Cholic Acid, Oxcarbazepine, Nefazodone

Làm giảm nồng độ Gramicidin trong huyết thanh có thể bị giảm khi sử dụng đồng thời với các thuốc bên.

Dược lực học

Gramicidin đặc biệt hiệu quả chống lại vi khuẩn gram dương. Vì thuốc có tính gây tan máu cao nên không thể dùng đường uống mà chỉ được dùng ngoài da dưới dạng kem dưỡng da hoặc thuốc mỡ. Nó được sử dụng chủ yếu trong điều trị các vết thương bề mặt bị nhiễm trùng và nhiễm trùng mắt, mũi và họng. Nó thường được dùng cùng với hai loại kháng sinh khác (neomycin và polymixin B) dưới dạng dung dịch nhãn khoa.

Cơ chế tác dụng

Gramicidin D liên kết và tự chèn vào màng vi khuẩn (ưu tiên mạnh hơn màng tế bào gram dương). Điều này dẫn đến sự phá vỡ màng và tính thấm (nó hoạt động như một kênh). Điều này dẫn đến:

- Mất các chất hòa tan nội bào (ví dụ K+ và axit amin);

- Tiêu tán điện thế xuyên màng;

- Ức chế hô hấp

- Giảm số lượng ATP

- Ức chế tổng hợp DNA, RNA và protein, dẫn đến chết tế bào.

Đặc điểm

Năm 1939, René Dubos đã phân lập được chất Tyrothricin. Sau đó người ta chứng minh đây là sự kết hợp của Gramicidin và tyrocidine . Đây là những loại kháng sinh đầu tiên được sản xuất thương mại. Chữ "D" trong Gramicidin D là viết tắt của "Dubos" và được phát minh để phân biệt hỗn hợp với Gramicidin S.

Năm 1964, trình tự Gramicidin A được xác định bởi Reinhard Sarge's và Bernhard Witkop.

Năm 1971, cấu trúc dimeric đối đầu của Gramicidin được DW Urry đề xuất.

Năm 1993, cấu trúc của dimer đối đầu Gramicidin trong các mixen và lớp lipid kép được xác định bằng dung dịch và NMR trạng thái rắn .

widget

Chat Zalo(8h00 - 21h30)

widget

1900 1572(8h00 - 21h30)