Giao tại:
Giỏ hàng

Đã thêm sản phẩm vào giỏ thuốc

Xem giỏ thuốc
Hotline (8:00 - 21:30) 1900 1572

Chọn tỉnh thành, phường xã để xem chính xác giá và tồn kho

Địa chỉ đã chọn: Thành phố Hồ Chí Minh

Chọn
Thông tin

Khổ sâm

Thông tin hoạt chất chỉ mang tính chất tham khảo chung. Để biết chi tiết của từng thuốc, mời bạn xem hướng dẫn sử dụng trong trang chi tiết.

Tên khác
Cao Khổ sâm nam, Khổ sâm nam, Bột Khổ sâm, Cao Khổ sâm bắc
Công dụng

Khổ sâm được sử dụng trong điều trị nhiều loại bệnh như: Hoàng đản, lỵ, chảy máu ruột, tiểu tiện không thông có máu, sốt cao hoá điên cuồng. Ngoài ra, khổ sâm còn được dùng để bổ thận, trị bệnh giun và ký sinh trùng cho súc vật. Nước sắc đặc của khổ sâm cũng có tác dụng rửa mụn nhọt và lở loét. Tại Vân Nam (Trung Quốc), rễ củ của cây khổ sâm được sử dụng để trị viêm mắt, khuẩn lỵ, trĩ xuất huyết, sởi, ghẻ ngứa, lở độc, di tinh, xích bạch đới hạ, viêm họng sưng đau. Cành lá của cây khổ sâm được dùng để diệt giòi bọ. Liều dùng khổ sâm là 10-12g/ngày, có thể sử dụng dưới dạng thuốc sắc, bột hoặc viên và chia làm 3 lần uống trong ngày.

Cây Khổ sâm đã từ lâu được sử dụng trong y học truyền thống của nhiều quốc gia, trong đó có Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ và một số nước ở Châu u. Theo y học cổ truyền Trung Quốc, Sophora flavescens được kết hợp với các loại thảo dược khác để điều trị nhiều bệnh như sốt, bệnh tiêu chảy có máu, da vàng, rối loạn niệu đạo, sưng âm hộ, hen suyễn, chàm, viêm da, loét và các bệnh liên quan đến bỏng.

Liều dùng - Cách dùng

Tùy thuộc vào từng bài thuốc mà có thể sử dụng dược liệu với nhiều cách khác nhau. Đối với khổ sâm cho lá thường dùng khô dưới dạng thuốc sắc hay hãm lấy nước uống mỗi ngày khoảng 12 – 20g. Hoặc có thể dùng 8 – 10 lá dạng tươi nhai trực tiếp.

Còn với khổ sâm cho rễ thì có thể dùng ở các dạng phổ biến như thuốc sắc, tán bột, làm viên hoàn. Liều lượng được khuyến cáo dùng trong một ngày là khoảng từ 10 – 12g.

Không sử dụng trong trường hợp sau
  • Tỳ vị hư hàn: không dùng (Trung Dược Đại Từ Điển).
  • Phụ nữ mang thai, trẻ nhỏ và phụ nữ đang cho con bú chỉ nên dùng với lượng thấp, đồng thời cần tham vấn ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng.
  • Vị thuốc có độc tính nhẹ, nên sử dụng với liều lượng thấp, không nên dùng quá liều, không dùng kéo dài mà chỉ nên dùng tối đa trong thời gian khoảng 1 tháng
Lưu ý khi sử dụng

Đối với khổ sâm cho lá, khi sử dụng cần chú ý đến các vấn đề sau:

  • Tuyệt đối không sử dụng lá khổ sâm cho những người tỳ vị hư hàn hay bị suy nhược, táo bón.
  • Sử dụng với liều cao có thể phát sinh phản ứng phụ với các triệu chứng nhức đầu, buồn nôn.
  • Không dùng lá khổ sâm cho các đối tượng trẻ em, phụ nữ đang cho con bú hay phụ nữ mang thai.

Còn đối với loại khổ sâm cho rễ thì cần chú ý đến các vấn đề sau:

  • Dược liệu kỵ với thỏ ty tử, bối mẫu và phản lê lô nên tuyệt đối không kết hợp chung các vị thuốc này với khổ sâm.
  • Tránh dùng khi can thận hư yếu mà không kèm theo chứng nóng.
  • Sử dụng dài ngày có thể khiến cho thận khí và tạng can bị tổn thương.
  • Tuyệt đối không dùng dược liệu cho những người có tỳ vị hư hàn.

Khổ sâm là tên gọi chung của một loại dược liệu mà trong đó có hai thành phần với những công dụng khác nhau. Do đó, cần dựa vào mục đích điều trị mà lựa chọn cho hợp lý. Để tránh những phản ứng không đáng có xảy ra, trước khi sử dụng cần tham khảo ý kiến của thầy thuốc chuyên môn về liều lượng và cách sử dụng.

Dược lý

Phân tích dược lý thực vật đã chỉ ra rằng chiết xuất từ cây Khổ sâm và các hợp chất trong đó, chủ yếu là alkaloid quinolizidin bao gồm matrine, oxymatrine và sophoridine, cùng với một số Flavonoid, có khả năng chống ung thư, chống viêm, tác dụng an thần, ổn định hệ miễn dịch và bảo vệ hệ thần kinh in vitro và in vivo.

Các nghiên cứu trên cây thuốc Khổ sâm đã chỉ ra rằng chiết xuất từ cây và các dẫn xuất của nó, chủ yếu là các alkaloid như matrine, oxymatrine, cùng với một số chất flavonoid, có hiệu quả trong việc điều trị ung thư vú. Việc sử dụng Khổ sâm và các hoạt chất của nó đã được khuyến khích và được xem là một phương pháp chăm sóc hỗ trợ hiệu quả trong quá trình điều trị ung thư vú. Các hợp chất được chiết xuất từ Sophora flavescens, bao gồm hợp chất tiêm Kushen và các hóa chất thực vật khác, đang trở thành liệu pháp hỗ trợ tiềm năng để ngăn ngừa, điều trị và phục hồi sau phẫu thuật ung thư vú.

Các hợp chất được chiết xuất từ cây Khổ sâm (S. flavescens), đặc biệt là các alkaloid, đã cho thấy hiệu quả trong việc chống lại bệnh ung thư trên cả mô hình in vitro và in vivo của ung thư đại trực tràng. Chúng đã ức chế quá trình tăng sinh tế bào bằng cách can thiệp vào chu trình tế bào ở giai đoạn G1, kích hoạt quá trình tự chết tế bào theo chương trình (apoptosis) thông qua con đường nội sinh, và ức chế quá trình chuyển hóa ung thư để làm suy yếu tế bào ung thư. Hơn nữa, chúng đã có tác dụng chống di căn, chống tạo mạch, ổn định quá trình lão hóa và telomere, và giảm viêm liên quan đến ung thư. Matrin và oxymatrine còn có khả năng đảo ngược kháng thuốc và tăng cường tác dụng của hóa trị liệu. Các tác dụng này được thực hiện thông qua việc điều chỉnh một số con đường truyền tín hiệu tế bào bao gồm: MAPK/ERK, PI3K/AKT/mTOR, p38MAPK, NF-κB, Hippo/LATS2, TGF-β/Smad, JAK/STAT3, RhoA/ROC, và con đường Wnt/-catenin.

Bảo quản

Dược liệu khi đã được phơi hay sấy khô cần cho vào trong túi kín và bảo quản ở những nơi khô thoáng, tránh mối mọt và ẩm mốc.

Đặc điểm

Khổ sâm cho lá, vì vị thuốc này dùng lá (Folium Tonkinenis) để chữa bệnh. Cây khổ sâm cho lá chỉ cao từ 1 – 1,2m thuộc loại cây bụi. Lá đơn, mọc cách hay gần như mọc đối, có khi mọc thành vòng giả, gồm 3 – 6 lá. Lá khổ sâm có hình mũi mác, dài 5 – 6 cm, rộng 2 – 3 cm, mép nguyên. Mặt dưới là màu trắng bạc óng ánh, trong như lá nhót đó là các long hình khiên. Mặt trên thường xanh nhạt cũng có ít long hình khiên như mặt dưới lá.

Khi lá khô đi, màu trắng bạc mặt dưới lá càng thể hiện rõ hơn; mặt trên lại trở nên màu nâu đen; điều đó giúp ta dễ dàng nhận dạng vị thuốc này. Cụm hoa thường được mọc ở kẽ lá hay đầu cành, lưỡng tính hay đơn tính. Hoa đực gồm 5 lá dài, 3 vòi nhị. Quả gồm 3 mảnh vỏ, màu hơi đỏ. Cây khổ sâm cho lá, thường là cây mọc hoang, đôi khi được trồng làm cảnh và được trồng ở nhiều nơi thuộc các tỉnh phía Bắc nước ta. Do đó nó còn được gọi là “khổ sâm Bắc bộ”. Người ta thu hút các là bánh tẻ vào các mùa trong năm. Phơi khô. Trước khi sử dụng, thường tiến hành sao vàng.

Sản phẩm có chứa Khổ sâm

widget

Chat Zalo(8h00 - 21h30)

widget

1900 1572(8h00 - 21h30)