- Do sử dụng milrinon kéo dài (quá 48 giờ để điều trị suy tim sung huyết, kể cả uống lẫn tiêm truyền tĩnh mạch liên tục hay ngắt quãng) đã làm tăng tỷ lệ tử vong, do đó hiện nay chỉ sử dụng dạng tiêm tĩnh mạch trong thời gian ngắn.
- Cần theo dõi cẩn thận trong khi điều trị với milrinon bao gồm huyết áp, nhịp tim, trạng thái lâm sàng, điện tâm đồ, cân bằng dịch, điện giải và chức năng thận (creatinin huyết thanh). Các phương tiện phải có sẵn để điều trị ngay lập tức các tác dụng phụ có thể xảy ra trên tim (ví dụ như loạn nhịp thất đe dọa tính mạng).
- Ở những bệnh nhân bị bệnh van động mạch chủ hoặc van động mạch phổi tắc nghẽn nặng, hoặc hẹp dưới van động mạch chủ phì đại, không nên sử dụng dung dịch tiêm/truyền milrinon thay cho phẫu thuật giải quyết tắc nghẽn. Cũng như các loại thuốc khác có đặc tính co bóp/giãn mạch, milrinon có thể làm trầm trọng thêm tình trạng tắc nghẽn đường ra trong những tình trạng này.
- Loạn nhịp thất và trên thất đã được quan sát thấy ở nhóm người có nguy cơ cao được điều trị bằng milrinon. Ở một số bệnh nhân, sự gia tăng ngoại tâm thu thất bao gồm nhịp nhanh thất tạm thời đã được quan sát thấy. Do đó nên theo dõi điện tâm đồ liên tục và theo dõi lâm sàng trong khi điều trị với dung dịch tiêm/truyền milrinon và nên điều chỉnh liều lượng cẩn thận, đặc biệt là những bệnh nhân có rối loạn nhịp thất phức tạp.
- Milrinon có thể gây hạ huyết áp do tác dụng giãn mạch; do đó, cần thận trọng khi dùng milrinon cho bệnh nhân hạ huyết áp trước khi điều trị. Ở những bệnh nhân có biểu hiện giảm huyết áp quá mức sau khi dùng milrinon, nên ngừng điều trị cho đến khi hết tác dụng hạ huyết áp và sau đó tiếp tục lại, nếu cần, với tốc độ truyền thấp hơn. Trong trường hợp rung nhĩ, cuồng động nhĩ, milrinon có khuynh hướng tạo thuận lợi cho dẫn truyền nhĩ thất, có thể cân nhắc dùng glycosid trợ tim hoặc các thuốc khác kéo dài thời gian dẫn truyền nhĩ thất. Nếu nghi ngờ liệu pháp lợi tiểu mạnh trước đó đã làm giảm đáng kể áp lực làm đầy tim, thì nên thận trọng dùng milrinon cùng với việc theo dõi huyết áp, nhịp tim và triệu chứng lâm sàng. Những thay đổi về dịch và điện giải, cũng như nồng độ creatinin huyết thanh cần được theo dõi cẩn thận trong quá trình điều trị. Có thể phải giảm liều thuốc lợi tiểu để cải thiện cung lượng tim.
- Mất Kali do bài niệu quả mức có thể làm cho bệnh nhân bị rối loạn nhịp tim. Do đó, hạ kali huyết nên được điều chỉnh bằng cách bổ sung kali trước hoặc trong khi tiêm/truyền milrinon.
- Milrinon không được khuyến cáo sử dụng ngay sau khi nhồi máu cơ tìm cấp. Sử dụng các thuốc tăng co bóp như milrinon trong giai đoạn cấp sau nhồi máu cơ tim có thể dẫn đến tăng tiêu thụ oxy cơ tim (MVO2) không mong muốn.
- Giảm hemoglobin, bao gồm cả thiếu máu, thường xảy ra trong trường hợp suy tim. Do nguy cơ giảm tiểu cầu hoặc thiếu máu, cần theo dõi cẩn thận các thông số xét nghiệm tương ứng ở những bệnh nhân giảm số lượng tiểu cầu hoặc giảm hemoglobin.
- Các trường hợp phản ứng tại chỗ tiêm truyền đã được báo cáo với dung dịch tiêm/truyền milrinon. Do đó, cần theo dõi cẩn thận vị trí tiêm truyền để tránh thoát mạch.
- Nên điều chỉnh liều ở bệnh nhân suy thận nặng.
- Người già: Không có khuyến nghị đặc biệt cho người lớn tuổi. Không có ảnh hưởng liên quan đến tuổi tác đối với tỷ lệ phản ủng có hại đã được quan sát thấy. Các nghiên cứu dược động học có kiểm soát cho thấy không có thay đổi về dược động học của milrinon ở người cao tuổi.
- Trẻ em: Những vấn đề sau đây cần được xem xét ngoài các cảnh bảo và thận trọng đã được mô tả cho người lớn:
- Ở trẻ sơ sinh, cần theo dõi nhịp tim, huyết áp động mạch toàn thân qua cathete động mạch rốn hoặc cathete ngoại vi, áp lực tĩnh mạch trung tâm, chỉ số tim, cung lượng tim, sức cản mạch hệ thống, áp lực động mạch phổi và áp lực nhĩ. Các chỉ số xét nghiệm cần được theo dõi là số lượng tiểu cầu, kali huyết thanh, chức năng gan và chức năng thận. Tần suất đánh giá được xác định bởi các giá trị cơ bản và cần phải đánh giá phản ứng của trẻ sơ sinh đối với những thay đổi trong liệu pháp.
- Tài liệu cho thấy ở bệnh nhi bị suy giảm chức năng thận, có sự suy giảm rõ rệt về độ thanh thải milrinon và có các tác dụng phụ đáng kể về mặt lâm sàng, nhưng chưa có dữ liệu hướng dẫn điều chỉnh liều theo độ thanh thải creatinin cho bệnh nhi, do đó việc sử dụng milrinon không được khuyến cáo trên nhóm bệnh nhân này. Ở trẻ em, chỉ nên bắt đầu dùng milrinon khi bệnh nhân ổn định về huyết động.
- Cần thận trọng ở trẻ sơ sinh có các yếu tố nguy cơ của xuất huyết não thất (tức là trẻ sinh non, nhẹ cân) vì milrinon có thể gây giảm tiểu cầu. Trong các nghiên cứu lâm sàng ở bệnh nhi, nguy cơ giảm tiểu cầu tăng đáng kể theo thời gian truyền. Dữ liệu lâm sàng cho thấy giảm tiểu cầu liên quan đến milrinon thường gặp ở trẻ em hơn người lớn.
- Trong các nghiên cứu lâm sàng, milrinon dường như làm chậm quá trình đóng ống động mạch ở trẻ em. Do đó, nếu muốn sử dụng milrinon ở trẻ sinh non hoặc đủ tháng có nguy cơ về còn ống động mạch, thì nhu cầu điều trị phải được cân nhắc với các nguy cơ tiềm ẩn.