Nhiều “tác dụng phụ” không thể tránh được, vì là biểu hiện tác dụng dược lý của thuốc, và dựa vào đó để điều chỉnh liều.
Thường gặp, ADR > 1/100
Toàn thân: Sốt, người khó chịu, dị cảm, suy nhược, mệt mỏi, giảm cân, kể cả ở người đáp ứng với thuốc.
Máu: Suy tuỷ xương, gây ra giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu
Tiêu hoá: Buồn nôn và nôn (14%) xảy ra sau khi tiêm thuốc được 1 – 2 giờ. Buồn nôn kéo dài đến 2 – 3 ngày; còn nôn, giảm nhanh hơn. Ngoài ra, chán ăn.
Da và niêm mạc: Loét miệng, rụng tóc 14%; tróc da, ngứa 4%. Đau và cứng ở chỗ tiêm do thuốc kích ứng. Ban da và loét ở chỗ tiêm và cả xa chỗ tiêm, xảy ra nhiều tuần đến nhiều tháng sau khi tiêm mitomycin, có thể cả khi thuốc không thoát ra ngoài mạch. Nếu thuốc thoát ra ngoài mạch sẽ bị viêm tế bào, hoại tử mô, tróc vảy; có thể có cảm giác đau nhói và nóng bừng.
Thận: Tăng urê huyết; tăng creatinin huyết (2%); tỷ lệ tai biến cao hơn, nếu tổng liều dùng trên 50 mg/m2; suy thận do tiêu huyết và urê huyết cao.
Ít gặp, 1/1000 < ADR < 1/100
Mạch: Viêm tĩnh mạch huyết khối.
Phổi: Có thể gây ra ho, ho ra máu, khó thở; viêm phổi ít gặp, nhưng có thể khá nặng.
Sinh dục: Vô tinh trùng, vô kinh, dẫn đến vô sinh.
Hiếm gặp, ADR < 1/1000
Hội chứng urê huyết-tiêu huyết: (biểu hiện bằng thiếu máu tiêu huyết ở mao mạch, giảm tiểu cầu, suy thận, tăng huyết áp) có thể nặng và tử vong. Phù phổi cũng là một biểu hiện của hội chứng này và có tiên lượng rất xấu, chủ yếu xảy ra nếu đã dùng thuốc trên 6 tháng phối hợp với thuốc chống ung thư fluorouracil. Tuy vậy, hội chứng này đã xảy ra ở người dùng thuốc dưới 6 tháng, hoặc ở người dùng mitomycin phối hợp với các thuốc khác.
Loét bàng quang: Sau khi sinh thiết chỗ u bàng quang để chẩn đoán, nếu điều trị bằng bơm thuốc vào bàng quang, có thể bị loét ở chỗ sinh thiết, là do chỗ sinh thiết chưa lành. Đã có trường hợp bị vôi hoá niêm mạc bàng quang sau khi điều trị bằng bơm thuốc vào bàng quang.