Giao tại:
Giỏ hàng

Đã thêm sản phẩm vào giỏ thuốc

Xem giỏ thuốc
Hotline (8:00 - 21:30) 1900 1572

Chọn tỉnh thành, phường xã để xem chính xác giá và tồn kho

Địa chỉ đã chọn: Thành phố Hồ Chí Minh

Chọn
Thông tin

Muồng trâu

Thông tin hoạt chất chỉ mang tính chất tham khảo chung. Để biết chi tiết của từng thuốc, mời bạn xem hướng dẫn sử dụng trong trang chi tiết.

Tên khác
Trong bhang, ana drao bhao (Buôn Mê Thuột), dâng het, tâng hét, dang hét khmoch (campuchia), khi lek ban (Lào), Muồng lác, Cây lác, Muồng xức lác
Công dụng

Tính vị: Các bộ phận của cây đều có mùi hắc, vị hơi đắng và tính mát. Riêng lá có vị cay, tính ấm.

Qui kinh: Chưa có nghiên cứu.

Công năng: Sát trùng, lợi tiểu, nhuận tràng, giải nhiệt và chỉ dương (giảm ngứa). Khi sao vàng, dược liệu có tác dụng tiêu viêm, tiêu độc, nhuận gan và tiêu thực.

Chủ trị: Các chứng bệnh như Thấp chẩn (chàm), viêm da thần kinh, hắc lào, da vàng, viêm gan, táo bón, đờm nhiều, phù thũng, dị ứng và nấm da.

Liều dùng - Cách dùng

Dược liệu thường được dùng ở dạng thuốc sắc, ngày dùng từ 4 – 5g. Ngoài ra, cây muồng trâu có thể được dùng ngoài da để điều trị bệnh vảy nến, hắc lào, lác, dị ứng, nấm,…

Không sử dụng trong trường hợp sau

Không dùng cho người bị tiêu chảy hoặc lạnh bụng.

Lưu ý khi sử dụng

Khi dùng cây muồng trâu để chữa bệnh, bạn nên lưu ý những thông tin sau:

  • Thận trọng khi dùng dược liệu cho phụ nữ mang thai.
  • Dược liệu muồng trâu có tác dụng nhuận tràng do đó có thể gây tiêu chảy khi dùng cho người có tỳ hư hàn (đau bụng đi ngoài, lạnh bụng).
  • Không nên dùng dược liệu trong một thời gian dài.
  • Hợp chất trong cây muồng trâu có thể tương tác với một số viên uống và thuốc điều trị. Vì vậy bạn nên tham khảo ý kiến bác sĩ nếu có ý định phối hợp.
Phụ nữ có thai và cho con bú

Cần thận trọng dùng cho phụ nữ mang thai.

Dược lý

Cao từ lá muồng trâu có triển vọng được nghiên cứu làm thuốc điều trị viêm gan cấp và mãn tính do có khả năng điều hòa chỉ số bilirubin, ALT và bảo vệ tế bào gan.

Lá muồng trâu có khả năng kháng khuẩn và kháng nấm. Hiện nay dược liệu này có thể có triển vọng làm thuốc hỗ trợ điều trị cho người nhiễm HIV.

Thực nghiệm trên chuột cống trắng bị xơ gan do CC14 nhận thấy, cao lá có thể làm giảm 12.64% hàm lượng Collagen trong gan và ức chế quá trình xơ gan.

Ngoài ra, lá muồng trâu còn có tác dụng tăng 39.64% lượng mật ở chuột nhắt trắng thực nghiệm.

Thực nghiệm trên chuột trắng bị u hạt do amian nhận thấy cao lá muồng trâu có tác dụng chống hiện tượng viêm mãn tính tốt (giảm khoảng 26.6% trọng lượng khối u).

Hợp chất anthraquinones trong cây muồng trâu có tác dụng chữa các bệnh da liễu như hắc lào, lang ben, dị ứng, vẩy nến, mẩn ngứa,…

Tác dụng nhuận tràng của muồng trâu được xác định là do hoạt động của hợp chất Sennoasides. Khi thành phần này di chuyển đến đại tràng, vi khuẩn đường ruột sẽ thủy phân thành Anthornes. Anthornes tác động đến nhu động ruột nhằm hạn chế táo bón và khó tiêu.

Bảo quản

Nơi khô thoáng, tránh ẩm và ánh nắng trực tiếp.

Đặc điểm

Muồng Trâu là thực vật thân nhỡ, chiều cao trong khoảng 1.5 - 3m. Thân mập, dạng gỗ mềm, đường kính từ 10 – 18cm, cành nằm ngang, có lông rất nhỏ.

Lá Muồng trâu là loại lá kép, cuống lá to, hơi có cánh, hình dạng giống như lông chim, trên mỗi lá có khoảng 8 – 14 đôi lá chét, chiều dài từ 30 – 40cm. Lá kèm thẳng, nhọn.

Lá chét thường hình trứng, đầu và gốc lá đều tròn. Cặp lá chét gần cuống nhất thường có kích thước nhỏ nhất và cách cặp lá chét tiếp theo khoảng cách xa hơn so với khoảng cách giữa các cặp lá chét tiếp theo.Lá chét càng xa thì kích thước càng lớn, kích thước trung bình 5 – 6cm x 12 – 14cm.

Hoa mọc thành cụm có nhiều bông, dài khoảng 30 – 40cm và có màu vàng sẫm hoặc vàng nâu nhạt. Quả hình hạt đậu, rộng 15 – 17mm và dài 8 – 16cm, bên trong có khoảng 60 hạt nhỏ.

Quả chín khô tách thành 2 mảnh, hạt rơi xuống đất, tồn tại qua đông và sẽ nảy mầm vào cuối mùa xuân năm sau. Cây có khả năng tái sinh sau khi bị chặt, còn có thể trồng bằng cành.

Phân bố, thu hái, chế biến

Muồng trâu là loại thực vật có nguồn gốc từ Nam Mỹ và hiện nay được du nhập sang nhiều nước có khí hậu nhiệt đới. Ở nước ta, cây được trồng để làm cảnh và mọc hoang nhiều nơi, tập trung nhiều nhất ở Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Nghệ An,…

Quả được thu hái vào tháng 10 – 12 hằng năm, dùng tươi hoặc có thể phơi khô để dùng dần. Thân, cành và lá thường được thu hái khi cây chưa ra hoa, rơi vào khoảng thời điểm hè – thu. Tương tự như hạt, cành, thân và lá có thể được dùng tươi hoặc phơi nắng cho khô.

widget

Chat Zalo(8h00 - 21h30)

widget

1900 1572(8h00 - 21h30)