Trong một nghiên cứu về sự phát triển trước và sau sinh, khỉ cynomolgus mang thai được tiêm tĩnh mạch hàng tuần obinutuzumab với liều 25 hoặc 50 mg/kg, bắt đầu từ ngày thứ 20 của thai kỳ cho đến khi sinh. Nghiên cứu không ghi nhận tác dụng gây quái thai. Tuy nhiên, ở liều cao hơn thì mức độ phơi nhiễm thuốc (AUC) ở khỉ gấp 2,4 lần so với mức phơi nhiễm quan sát được ở bệnh nhân CLL khi dùng liều khuyến cáo. Obinutuzumab được phát hiện trong cơ thể con non vào ngày 28 sau sinh, kèm theo sự suy giảm hoàn toàn tế bào B. Số lượng tế bào B ở con non sau đó đã phục hồi về mức bình thường và chức năng miễn dịch được ghi nhận là đã trở lại bình thường trong vòng 6 tháng sau sinh.
Đối với phụ nữ có thai: Hiện chưa có các nghiên cứu đầy đủ và được kiểm soát chặt chẽ về việc sử dụng obinutuzumab ở phụ nữ mang thai. Do tiềm năng gây hại cho thai nhi, phụ nữ trong độ tuổi sinh sản cần sử dụng các biện pháp tránh thai hiệu quả trong suốt quá trình điều trị bằng obinutuzumab và kéo dài thêm 12 tháng sau liều cuối cùng. Chỉ nên cân nhắc sử dụng obinutuzumab trong thai kỳ nếu lợi ích tiềm năng cho người mẹ vượt trội hơn nguy cơ có thể xảy ra cho thai nhi.
Đối với phụ nữ cho con bú: Hiện chưa xác định được liệu obinutuzumab có bài tiết qua sữa mẹ hay không. Tuy nhiên, các nghiên cứu cho thấy obinutuzumab được bài tiết qua sữa của khỉ cynomolgus đang cho con bú, và các kháng thể IgG ở người vốn được biết là có thể bài tiết qua sữa mẹ. Do nhiều loại thuốc có khả năng bài tiết qua sữa mẹ và nguy cơ tiềm ẩn gây ra các tác dụng phụ nghiêm trọng ở trẻ bú mẹ khi tiếp xúc với obinutuzumab, cần cân nhắc kỹ lưỡng giữa việc ngừng cho con bú hoặc ngừng sử dụng thuốc, dựa trên tầm quan trọng của thuốc đối với người mẹ.