Điều trị phù não,
Phòng và điều trị tụ máu, chống viêm, chống phù nề sau phẫu thuật và chấn thương
Điều trị thiểu năng tĩnh mạch mãn tính, giãn tĩnh mạch chân, trĩ
Điều trị viêm tĩnh mạch chân
Đã thêm sản phẩm vào giỏ thuốc
Xem giỏ thuốcChọn tỉnh thành, phường xã để xem chính xác giá và tồn kho
Điều trị phù não,
Phòng và điều trị tụ máu, chống viêm, chống phù nề sau phẫu thuật và chấn thương
Điều trị thiểu năng tĩnh mạch mãn tính, giãn tĩnh mạch chân, trĩ
Điều trị viêm tĩnh mạch chân
Tiêm tĩnh mạch
Người lớn, dùng liều 0.1-0.4mg/kg cân nặng. Có thể hòa tan 5-10mg Sodium aescinate trong 250ml dd glucose 10% hoặc natriclorid 0.9% để tiêm truyền tĩnh mạch hoặc hòa tan 5-10mg Sodium aescinate trong 10-20ml đ glucose 10% hoặc natriclorid 0.9% để tiêm tĩnh mạch. Đối vối các trường hợp bệnh nặng cũng không được dùng quá 20mg/ ngày. Đợt điều trị từ 7 đến 10 ngày.
Trẻ em: không khuyến cáo sử dụng.
Không nên dùng Aescinate cho những bệnh nhân quá mẫn cảm với hoạt chất chính hoặc bất cứ thành phần nào của thuốc
Tuyệt đối không dùng cho những bệnh nhân suy thận cấp.
Trong suốt thời gian sử dụng thuốc phải kiểm tra chức năng thận
không nên sử dụng Aescinate với bệnh nhân có tiền sử bệnh không dung nạp galactose, thiếu hụt lapplactose hoặc kém hấp thu glucose-galactose.
Với bệnh nhân đang dùng thuốc tránh thai, có thể tăng gấp đôi liều dùng Aescinate.
Aescinate có thể làm tăng tác dụng của các thuốc chống đông. Kháng sinh cephalosporin có thể tăng tác dụng của lydosinat.
Nên tránh dùng đồng thời Aescinate với các thuốc kháng sinh nhóm amino glycosid do khả năng tăng độc tính của kháng sinh nhóm amino glycosid trên thận.
Đau, sưng tại vị trí tiêm.
Phản ứng quá mẫn, bao gồm nổi mề đay
Rối loạn hệ thống miễn dịch.
Rối loạn tiêu hóa.
Aescinate có tác dụng làm giảm phù nề và chống viêm nhiễm, đồng thời đẩy mạnh trương lực thường trong thành mạch máu, làm giảm khả năng thẩm thấu thành mạch máu.
Hiệu quả chống viêm nhiễm và chống phù nề đạt được là do hoạt tính enzym hyaluronidaze giảm, chất enzym này làm tăng tính thẩm thấu thành mạch máu, trương lực tĩnh mạch của thành mạch máu gia tăng được do khả năng kích thích của aescin trong việc giúp đào thải hormon của vỏ tuyến thượng thận, làm tăng khả năng sản sinh prostaglandin PGF20 trên thành mạch máu, giải phóng norepinephrin ở giai đoạn cuối dây thần kinh cũng hiệu quả như việc chuyển hóa Aescin có đặc tính tương tự như hormon vỏ tuyến thượng thận, các khả năng phức hợp này giúp gia tăng áp lực tế bào cơ thành mạch máu.
Thời gian bán thải của sodium aescinate là 1,5 giờ, nhưng có thể thúc đẩy cơ thể để tăng ACTH, tăng khả năng sản sinh prostaglandin PGF20, để duy trì tác dụng sinh học trong 1 thời gian dài. Sau khi tiêm tĩnh mạch 16h, tác dụng chống sưng vẫn có hiệu lực. Sau khi tiêm tĩnh mạch 1 giờ, 1/3 liều dùng được bài tiết trong đó 1/3 được bài tiết qua nước tiểu và 2/3 qua đường mật vào ruột. Tỉ lệ Aescin liên kết với protein huyết tương trên 90%.