Ung thư vòm hầu là bệnh khá phổ biến trong nhóm bệnh ung thư vùng đầu mặt cổ. Bệnh thường gặp ở nam giới, nhóm đối tượng có thói quen sử dụng rượu bia, thuốc lá. Cùng tìm hiểu về bệnh ung thư vòm hầu qua bài viết dưới đây nhé!
1Ung thư vòm hầu là gì?
Vòm hầu là vùng được giới hạn từ phía sau hốc mũi đến phía trên vòm khẩu cái mềm, là vùng nối tiếp từ mũi xuống họng. Nó được ví như chiếc hộp dài khoảng 4 cm và rộng 2 cm, có chức năng dẫn không khí từ mũi qua họng để đi vào khí quản.
Ung thư vòm hầu là sự xuất hiện khối tế bào ác tính tăng sinh bất thường, không tuân theo sự kiểm soát của cơ thể ở vùng vòm hầu.[1]

Ung thư vòm hầu ngày càng trở nên phổ biến trong nhóm ung thư vùng đầu mặt
2Nguyên nhân gây ung thư vòm hầu
Ung thư được xác định bởi sự có mặt của tế bào ác tính tăng sinh nhanh bất thường. Nguyên nhân gây ung thư vòm hầu có liên quan đến các yếu tố gây đột biến gen.
Điều này dẫn đến sự hình thành tế bào đột biến cấu trúc, nhân lên không tuân theo quy luật của cơ thể. Có nhiều yếu tố liên quan đến việc gây ra đột biến gen như: virus, thực phẩm ướp muối, hút thuốc, lạm dụng rượu bia.
3Các yếu tố nguy cơ
Các yếu tố nguy cơ làm tăng tỷ lệ mắc ung thư vòm hầu bao gồm:
Chủng tộc: Chủng người Châu Á, đặc biệt là các nước Đông Nam Á (bao gồm Việt Nam, Singapore, Philippines…) hoặc khu vực phía nam Trung Quốc có tỷ lệ mắc ung thư vòm hầu cao hơn các khu vực khác trên thế giới.
Độ tuổi: Ung thư vòm hầu thường gặp ở nhóm người lớn tuổi. Tuy nhiên, hiện nay nhóm tuổi mắc bệnh đang có xu hướng trẻ hóa, ngày càng có nhiều người trẻ tuổi (khoảng từ 30 tuổi) mắc bệnh.
Giới tính: Nam giới có tỉ lệ mắc cao gấp 2 - 3 lần so với nữ giới.[2]
Tiền sử nhiễm virus Epstein Barr (EBV): EBV thường gây viêm đường hô hấp trên như viêm mũi, viêm xoang hoặc viêm họng. Virus có thể gây biến đổi vật chất di truyền (ADN), khiến xuất hiện những gen đột biến, được cho là có liên quan ở bệnh nhân ung thư vòm hầu.
Nhiễm HPV: Nhiễm HPV có thể gây khối u nhú và là căn nguyên hàng đầu của một số bệnh ung thư đường sinh dục, ung thư miệng và ung thư vòm hầu.
Thực phẩm ướp muối: Một số loại thực phẩm muối chua, lên men, đồ đóng hộp như cải muối, thịt chua, thịt hộp có thể làm tăng mức độ hoạt động của EBV dẫn đến đột biến gen và xuất hiện khối ung thư.
Lạm dụng đồ uống có cồn: Những người thường xuyên sử dụng đồ uống có cồn khiến niêm mạc vùng hầu họng chịu kích thích trong thời gian dài, làm tăng nguy cơ mắc các bệnh đường hô hấp và ung thư vòm hầu.
Hút thuốc lá: Thuốc lá có chứa hàng triệu hóa chất độc hại gây tổn thương niêm mạc đường hô hấp khiến hàng rào bảo vệ suy yếu dẫn đến thường xuyên bị viêm đường hô hấp và có nguy cơ cao bị ung thư vòm hầu.
Yếu tố di truyền: Người có bố, mẹ hoặc các anh chị em ruột trong gia đình mắc bệnh thường có nguy cơ bị ung thư vòm hầu cao hơn bình thường.

Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ mắc ung thư vòm hầu
4Dấu hiệu ung thư vòm hầu
Ở giai đoạn sớm, dấu hiệu của ung thư vòm hầu không điển hình và dễ bị nhầm với triệu chứng chung của viêm đường hô hấp trên, bệnh lý mũi xoang khác. Do đó, người bệnh thường chủ quan và bỏ lỡ thời điểm điều trị phù hợp.
Một số triệu chứng có thể gặp trong ung thư vòm hầu bao gồm:[3]
- Đa phần triệu chứng đầu tiên thường gặp để bệnh nhân đi khám bệnh là khối sưng to vùng cổ bên, thường không đau, do ung thư di căn đến hạch vùng cổ.
- Nghẹt mũi hoặc tắc mũi, thường xuất hiện ở 1 bên, kéo dài.
- Chảy mũi nhầy có thể lẫn máu, mùi hôi.
- Chảy máu mũi tái diễn nhiều lần, khó cầm.
- Giảm hoặc mất khứu giác.
- Khàn tiếng.
- Sút cân nhanh chóng, mệt mỏi, uể oải.
Ngoài ra, ở giai đoạn muộn, người bệnh còn biểu hiện các triệu chứng tại cơ quan lân cận như ù tai, nghe kém, đau đầu hoặc nhìn mờ, nhìn đôi.

Chảy máu mũi và sờ thấy khối rắn ở vùng hầu họng là triệu chứng điển hình của ung thư vòm họng
5Các giai đoạn và tiên lượng
Bệnh được chia thành 4 giai đoạn dựa vào kích thước, khả năng xâm lấn và di căn của tế bào ung thư như:[4]
- Giai đoạn 1: Khối u nhỏ, khu trú tại vùng vòm hầu.
- Giai đoạn 2: Khối u đã lan ra các thành phần xung quanh trên hoặc dưới họng, tuy nhiên chưa xâm lấn xương. Hoặc đã có sự di căn hạch vùng cổ, kích thước hạch dưới 6 cm.
- Giai đoạn 3: Khối u đã phát triển mạnh, lan rộng kèm di căn hạch bạch huyết, kích thước hạch trên 6 cm.
- Giai đoạn 4: Tế bào ung thư di căn đến các hạch xa và cơ quan khác trong cơ thể.
Theo dữ liệu SEER theo dõi tỷ lệ sống sót sau 5 năm đối với bệnh ung thư vòm họng ở Hoa Kỳ, dựa trên mức độ lan rộng của ung thư:
- Giai đoạn khu trú (giai đoạn I): Tỷ lệ sống sót sau 5 năm là 82%.
- Giai đoạn di căn hạch (giai đoạn II - III): Tỷ lệ sống sót sau 5 năm là 72%.
- Giai đoạn có di căn xa đến các cơ quan (giai đoạn IV): Tỷ lệ sống sót sau 5 năm chỉ còn 49%.
6Chẩn đoán ung thư vòm hầu
Chẩn đoán ung thư vòm hầu cần kết hợp hỏi bệnh, thăm khám lâm sàng và thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng khác. Bên cạnh việc chẩn đoán ung thư, bác sĩ còn cần đánh giá giai đoạn bệnh để lựa chọn các biện pháp điều trị phù hợp.[5]
Lâm sàng
Người bệnh thường đến khám ở giai đoạn muộn khi các triệu chứng nặng và điển hình. Do đó, việc phát hiện sớm bệnh đóng vai trò quan trọng. Bác sĩ sẽ tiến hành hỏi kỹ về đặc điểm, thời gian xuất hiện các triệu chứng, từ đó định hướng thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng cần thiết.

Thăm khám lâm sàng giúp định hướng bệnh và chỉ định cận lâm sàng phù hợp
Khám thần kinh
Khối ung thư thường phát triển theo xu hướng lan rộng và thâm nhiễm vào các tạng xung quanh. Biến chứng nguy hiểm nhất là gây tổn thương các dây thần kinh đi qua vùng nền sọ, đặc biệt dây thần kinh thị giác (dây II) ngay sát vòm hầu.
Do đó, việc thăm khám và đánh giá chức năng các dây thần kinh luôn được thực hiện ở những bệnh nhân ung thư vòm hầu.
Sinh thiết
Sinh thiết thường được tiến hành kết hợp trong quá trình nội soi tai mũi họng. Khi quan sát thấy khối u nghi ngờ ung thư, bác sĩ nội soi sẽ sử dụng dụng cụ để bấm lấy mảnh mô nhỏ trên khối u đem tiến hành nhuộm soi, quan sát.
Bác sĩ giải phẫu bệnh sẽ quan sát tìm kiếm sự có mặt tế bào ác tính, đồng thời xác định loại tế bào ung thư. Do đó, kết quả sinh thiết chính là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán ung thư vòm hầu.

Sinh thiết cần được tiến hành dưới hướng dẫn của nội soi tai mũi họng
Hình ảnh học
Các biện pháp chẩn đoán hình ảnh rất có giá trị trong chẩn đoán, giúp bác sĩ quan sát hình ảnh rõ nét về vị trí, hình dạng và kích thước khối ung thư.
Đồng thời kết quả còn giúp chẩn đoán giai đoạn bệnh thông qua đánh giá mức độ xâm lấn, di căn của khối ung thư đến hạch và các cơ quan lân cận.
Một số cận lâm sàng hình ảnh học được sử dụng trong chẩn đoán bao gồm:
- Chụp X-quang phổi: Phát hiện khối ung thư di căn phổi hoặc di căn đến hạch trung thất.
- Chụp cắt lớp vi tính (CT-scanner): Rất có giá trị trong chẩn đoán ung thư và giai đoạn bệnh.
- Cộng hưởng từ (MRI): Giúp bác sĩ quan sát hình ảnh rõ nét của khối ung thư, có giá trị cao trong những trường hợp nghi ngờ khối ung thư gây ảnh hưởng đến các dây thần kinh.
- Chụp PET-CT: Biện pháp kết hợp chụp CT-scanner kết hợp với sử dụng đồng vị phóng xạ để quan sát chính xác hình ảnh khối ung thư.

Biện pháp chẩn đoán hình ảnh rất có giá trị trong chẩn đoán và xác định giai đoạn bệnh
Xét nghiệm máu
Các xét nghiệm công thức máu, sinh hóa máu đánh giá chức năng gan, thận cần được thực hiện để phát hiện các biến chứng của ung thư thư. Do các biện pháp điều trị ung thư đem lại nhiều tác dụng phụ nên các xét nghiệm này cũng cần kiểm tra thường xuyên.

Xét nghiệm máu cần được kiểm tra trước và trong suốt quá trình điều trị ung thư
Xét nghiệm virus Epstein Barr
Nhiều bệnh nhân ung thư vòm hầu có kèm theo nhiễm EBV. Do đó, xét nghiệm định lượng nồng độ virus EBV trong máu có thể được chỉ định trước khi tiến hành điều trị. Nồng độ virus trong máu cũng là một yếu tố giúp tiên lượng nguy cơ nặng cũng như mức độ đáp ứng điều trị của bệnh.
Khám thính lực
Người bệnh ung thư vòm hầu thường có biểu hiện ù tai, đôi khi nghe kém và mất thính lực 1 bên. Do đó, đánh giá thính lực là cần thiết trong chẩn đoán bệnh ung thư vòm hầu.
7Khi nào cần gặp bác sĩ
Các dấu hiệu cần gặp bác sĩ
Người bệnh có thể đến khám bác sĩ để được chẩn đoán bệnh khi xuất hiện một số triệu chứng sau:
- Khối sưng to vùng cổ.
- Nghẹt mũi kéo dài, thường 1 bên.
- Chảy máu mũi tái diễn nhiều lần.
- Chảy nhầy máu mũi, mùi hôi.
- Mất khứu giác.
- Đau đầu, nhìn mờ, nhìn đôi.
- Sút cân nhanh chóng, không rõ nguyên nhân.

Bạn nên đi khám bác sĩ khi có dấu hiệu nghi ngờ ung thư vòm hầu
Địa chỉ khám chữa bệnh uy tín
Khi có các dấu hiệu nghi ngờ ung thư vòm hầu, bạn nên đến khám tại các cơ sở y tế gần nhất, các bệnh viện hay phòng khám chuyên khoa Tai mũi họng, khoa Nội, Ung bướu hoặc bất kỳ bệnh viện đa khoa nào tại địa phương để được thăm khám kịp thời.
Ngoài ra, có thể tham khảo một số bệnh viện lớn, uy tín dưới đây để được chẩn đoán và tư vấn điều trị phù hợp, tránh các biến chứng đáng tiếc xảy ra:
- Tại Tp. Hồ Chí Minh: Bệnh viện Ung bướu Tp. Hồ Chí Minh, Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Đại học Y dược TP. Hồ Chí Minh.
- Tại Hà Nội: Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện K, Bệnh viện Ung bướu Hà Nội.
8Điều trị ung thư vòm hầu
Tùy vào giai đoạn, tuổi mắc bệnh, bác sĩ sẽ quyết định lựa chọn biện pháp điều trị phù hợp. Thông thường ung thư vòm hầu có thể được điều trị bằng cách kết hợp nhiều phương pháp với nhau. Nếu có thói quen hút thuốc, bạn sẽ phải bỏ thuốc lá trước khi điều trị.[6]
Xạ trị
Xạ trị là biện pháp được lựa chọn đầu tay trong điều trị ung thư vòm hầu, bằng cách sử dụng tia phóng xạ có mức năng lượng cao để phá vỡ cấu trúc tế bào ung thư. Có 2 biện pháp xạ trị được sử dụng:
- Xạ trị bằng chùm tia ngoài: Được sử dụng phổ biến nhất, phát tia X nhắm vào khối u từ một cỗ máy bên ngoài cơ thể. Trong quá trình xạ trị, người bệnh cần đeo mặt nạ giữ cố định đầu - cổ.
- Xạ trị bên trong (áp sát): Cung cấp bức xạ bằng cách đặt những thanh hoặc dây kim loại rất mỏng chứa chất phóng xạ vào vùng hầu họng hoặc rất gần khối u. Liệu pháp này giúp tiêu diệt ung thư và hạn chế tổn hại đến các mô lành xung quanh.
Một số tác dụng phụ của xạ trị bao gồm mất nước, tổn thương da, khô da, loét miệng, buồn nôn, mất vị giác. Vùng vòm hầu rất nhiều thành phần quan trọng như thần kinh, mạch máu, tuyến nội tiết... Do đó, tia xạ có thể ảnh hưởng đến các thành phần mô lành xung quanh.

Xạ trị được lựa chọn phổ biến trong điều trị ung thư vòm hầu
Hóa trị
Hóa trị thường được chỉ định điều trị kết hợp với mục đích bổ trợ các phương pháp khác như phẫu thuật hoặc xạ trị. Người bệnh sẽ được truyền tĩnh mạch các hóa chất để tiêu diệt tế bào ung thư hoặc ngăn sự phát triển và tái phát ung thư.
Các loại hóa chất được sử dụng đơn độc hoặc kết hợp với nhau. Cisplatin là loại thuốc hóa trị được sử dụng thường xuyên nhất để điều trị ung thư vòm hầu. Một số hóa chất khác trong điều trị ung thư bao gồm 5-fluorouracil (5-FU), gemcitabine.
Một số tác dụng phụ thường gặp của hóa trị bao gồm rụng tóc, nôn, buồn nôn, thay đổi vị giác, loét miệng và đặc biệt là rối loạn các dòng tế bào máu.
Phẫu thuật
Phẫu thuật thường được cân nhắc kỹ lưỡng trong điều trị ung thư vòm hầu do diện tích tiếp xúc nhỏ gây khó khăn cho thao tác phẫu thuật. Tùy vào giai đoạn bệnh, bác sĩ sẽ quyết định lựa chọn biện pháp phẫu thuật phù hợp.
Trong phẫu thuật nội soi, bác sĩ phẫu thuật sẽ sử dụng ống nội soi tiến hành cắt bỏ hoàn toàn khối ung thư và cả vùng niêm mạc xung quanh nhằm hạn chế sự xâm lấn xung quanh. Tuy nhiên, phương pháp này thường được chỉ định trong giai đoạn sớm, khối ung thư còn khu trú.
Với người bệnh đến ở giai đoạn muộn, tế bào ung thư đã di căn đến các hạch vùng cổ. Khi đó, bác sĩ sẽ tiến hành mổ mở để bóc tách, loại bỏ hạch di căn. Ngoài ra, người bệnh có thể cần điều trị hóa trị kết hợp để hạn chế nguy cơ tái phát bệnh.

Phẫu thuật trong ung thư vòm hầu cần được cân nhắc cẩn thận
Liệu pháp nhắm đích
Biện pháp sử dụng thuốc sinh học nhắm vào protein EGFR (thụ thể của yếu tố tăng trưởng biểu bì) có mặt trên bề mặt tế bào ung thư. Cetuximab có bản chất là một kháng thể đơn dòng nhắm vào EGFR, giúp làm chậm hoặc ngăn chặn sự phát triển của tế bào ung thư.
Mặc dù hiệu quả điều trị của cetuximab vẫn đang được nghiên cứu, song tại nhiều quốc gia, thuốc đã được sử dụng cùng với hóa trị trong trường hợp ung thư di căn hoặc tái phát sau điều trị bằng hóa trị. Thuốc được truyền tĩnh mạch hằng tuần hoặc cách tuần.
Liệu pháp miễn dịch
Liệu pháp sử dụng kháng thể để tăng cường hệ thống miễn dịch nhằm mục đích hỗ trợ tìm kiếm và tiêu diệt các tế bào ung thư. Biện pháp này thường ít đem lại tác dụng phụ hơn so với sử dụng hóa chất.
Pembrolizumab và nivolumab là thuốc nhắm vào protein PD-1 trên bề mặt tế bào lympho T. PD-1 có chức năng ngăn tế bào T tấn công các tế bào trong cơ thể. Do đó, khi thuốc ngăn sự hoạt động của PD-1 sẽ làm tăng phản ứng miễn dịch, chống lại tế bào ung thư. Từ đó, khối u bị thu nhỏ hoặc ngừng phát triển.
Liệu pháp này có thể được sử dụng trong trường hợp tái phát sau khi hóa trị, không thể phẫu thuật hoặc xạ trị hoặc trong ung thư di căn. Nivolumab được truyền tĩnh mạch 2 hoặc 4 tuần một lần. Pembrolizumab dùng đường truyền tĩnh mạch và thường 3 hoặc 6 tuần một lần.
9Phòng ngừa ung thư vòm hầu
Hiện nay vẫn không có phương pháp nào có khả năng phòng ngừa hoàn toàn ung thư vòm hầu. Một số biện pháp được khuyến cáo để giúp giảm nguy cơ mắc bệnh bao gồm:
- Bỏ hút thuốc lá.
- Hạn chế uống bia rượu, đồ uống có cồn.
- Hạn chế sử dụng các loại thực phẩm được lên men, muối chua. Cách chuyên gia khuyến cáo chỉ nên ăn không quá 1 lần/tuần).
- Tiêm phòng virus HPV.
- Khám sức khỏe định kỳ 2 lần/năm và ngay khi có bất cứ triệu chứng bất thường như nghẹt mũi, chảy máu mũi…[7]

Tiêm phòng HPV là một biện pháp phòng bệnh ung thư vòm hầu
Hy vọng bài viết trên giúp bạn có thêm những kiến thức hữu ích về bệnh ung thư vòm hầu. Hãy chia sẻ bài viết này đến tất cả người thân và bạn bè xung quanh bạn nhé!
Nguồn tham khảo
Xem thêm 