STD là tên gọi tắt của cụm từ “sexually transmitted disease” hay được gọi là các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Cùng tìm hiểu chi tiết về các bệnh lý này qua bài viết dưới đây nhé!
1STD là bệnh gì?
Bệnh STD hay STDs là tên gọi dành cho nhóm bệnh lý lây truyền qua đường tình dục. Các bệnh này thường lây lan thông qua các hình thức quan hệ tình dục. Các tổn thương đặc trưng của bệnh có thể xuất hiện tại nhiều cơ quan như: bộ phận sinh dục, hậu môn, ngoài da hoặc niêm mạc miệng.
Có nhiều nguyên nhân gây ra các bệnh STDs như: vi khuẩn, virus và các ký sinh trùng. Bệnh chủ yếu lây truyền qua con đường quan hệ tình dục không an toàn (lây qua tinh dịch, dịch âm đạo, dịch tiết cơ thể, máu,..) và từ mẹ sang con khi mang thai hoặc sinh nở.[1][2]

STD hay STDs là thuật ngữ chỉ nhóm bệnh lý lây truyền qua đường tình dục
2Các loại bệnh STDs thường gặp và triệu chứng của bệnh
Hiện nay, theo WHO có khoảng 30 bệnh lý được xếp vào nhóm các bệnh STDs, trong đó có 7 bệnh phổ biến với tỷ lệ mắc cao bao gồm:
Bệnh Chlamydia
Bệnh Chlamydia là bệnh STD phổ biến nhất, đặc biệt ở người trẻ tuổi. Bệnh do vi khuẩn Chlamydia trachomatis gây nên nhưng triệu chứng ban đầu thường không điển hình nên khó phát hiện sớm. Từ đó, làm tăng nguy cơ mắc viêm vùng chậu và vô sinh.
Các triệu chứng của việc nhiễm Chlamydia gồm:
Ở nữ giới
- Ra khí hư màu vàng nhạt hoặc hơi đục, có thể kèm theo mùi hôi.
- Chảy máu âm đạo sau quan hệ tình dục hoặc giữa chu kỳ
- Đau tức vùng hạ vị, đau tăng khi vận động mạnh.
Ở nam giới
- Đau rát khi đi tiểu hoặc khi quan hệ.
- Sưng đau tinh hoàn.
- Tiết dịch, mủ tại đầu dương vật.
Với các trường hợp nhiễm Chlamydia ở cơ quan khác như mắt, miệng, hậu môn… người bệnh có thể gặp biểu hiện sau:
- Viêm đỏ kết mạc mắt hoặc vùng da quanh mắt.
- Chảy máu, mủ tại hậu môn hoặc đau khi đi vệ sinh.
- Đau họng kéo dài.

Bệnh Chlamydia là bệnh STD phổ biến do vi khuẩn Chlamydia trachomatis gây nên
Bệnh lậu
Lậu là một trong những bệnh lý lây truyền qua đường sinh dục khá thường gặp do vi khuẩn Neisseria gonorrhoeae gây ra. Bệnh lậu lây nhiễm thông qua việc quan hệ tình dục không an toàn hoặc truyền từ mẹ sang con trong quá trình đẻ thường qua đường âm đạo.
Triệu chứng của bệnh lậu thường có sự khác biệt phụ thuộc vào giới tính, thời gian mắc bệnh và cơ quan bị tổn thương. Một số triệu chứng chính của bệnh gồm:
Ở nữ giới
Biểu hiện thường mơ hồ và dễ bị nhầm lẫn với các bệnh viêm âm đạo, viêm phần phụ do nguyên nhân khác. Các biểu hiện của bệnh gồm:
- Ra khí hư âm đạo bất thường, màu vàng hoặc xanh.
- Tiểu rát hoặc tiểu buốt.
- Chảy máu âm đạo bất thường ngoài kỳ kinh và sau khi quan hệ tình dục.
- Đau tức bụng dưới.
Ở nam giới
- Tiết mủ tại đầu dương vật hoặc trên đáy quần lót vào sáng sớm hay được gọi là dấu hiệu “giọt mủ ban mai”.
- Đi tiểu nhiều lần trong ngày, tiểu buốt, tiểu rắt.
- Sưng, đau tinh hoàn (có thể 1 hoặc cả 2 bên).
Các biểu hiện tại cơ quan khác thường khá tương đồng với bệnh Chlamydia nên dễ bị nhầm lẫn.

Nữ giới mắc bệnh lậu có thể xuất hiện triệu chứng đau vùng bụng dưới
Bệnh Trichomonas
Bệnh Trichomonas là bệnh STD do ký sinh trùng Trichomonas vaginalis gây nên, thường được gọi là nhiễm trùng roi đường sinh dục. Bệnh gây nên các biểu hiện bất thường ở cả 2 giới nhưng phụ nữ thường điển hình và dễ phát hiện hơn.
Các triệu chứng chính của bệnh gồm:
Ở nữ giới
- Ra khí hư bất thường với màu trắng, vàng, xanh hoặc xám, có thể kèm theo bọt khí hoặc mùi hôi.
- Tấy đỏ, ngứa rát vùng âm hộ.
- Đau tức hoặc chảy máu âm đạo sau quan hệ tình dục.
Ở nam giới
Các triệu chứng thường không điển hình như:
- Chảy dịch trắng đục hoặc trong suốt tại đầu dương vật, số lượng thường ít.
- Ngứa rát, đau buốt khi quan hệ hoặc đi tiểu.
- Đau nhẹ vùng hạ vị hoặc tinh hoàn.
HIV/AIDS
HIV/AIDS là một bệnh lây truyền qua đường sinh dục nguy hiểm do virus HIV gây ra. Khi xâm nhập vào cơ thể, virus HIV sẽ tấn công vào các tế bào Lympho T của hệ thống miễn dịch dẫn đến hậu quả cuối cùng là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải AIDS.
Các biểu hiện của bệnh HIV/AIDS thường tiến triển theo từng giai đoạn. Trong đó, thời kỳ đầu của bệnh, các triệu chứng thường mơ hồ khiến việc chẩn đoán trở nên khó khăn hơn.
Giai đoạn 1: xuất hiện sau phơi nhiễm từ 2 - 4 tuần
- Sốt nhẹ, thường về chiều tối.
- Mệt mỏi, chán ăn.
- Nổi các nốt phát ban trên cơ thể.
- Đau nhức các khớp.
- Sưng đau các hạch bạch huyết.
Giai đoạn 2: giai đoạn tiềm ẩn
- Người bệnh thường không xuất hiện triệu chứng rõ ràng.
- Một số ít bệnh nhân có thể bị sưng hạch bạch huyết kéo dài.
Giai đoạn này thường kéo dài từ vài năm hoặc chục năm kể cả không điều trị. Tuy nhiên, virus HIV vẫn đang tồn tại trong cơ thể và lây truyền cho người khác qua đường quan hệ tình dục không an toàn, đường máu hoặc từ mẹ sang con.
Giai đoạn 3: giai đoạn HIV có biểu hiện lâm sàng rõ ràng
Người bệnh ở giai đoạn này thường xuất hiện các triệu chứng sau:
- Sút cân nhanh chóng, không rõ nguyên nhân.
- Sốt kéo dài trên 1 tháng.
- Tiêu chảy mạn tính (trên 1 tháng).
- Tăng nguy cơ mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội do hệ miễn dịch bị suy giảm như viêm phổi, loét miệng, lao phổi…
Giai đoạn 4: hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải - AIDS
Giai đoạn này được xác định khi định lượng tế bào CD4 dưới 200 tế bào/mm³ hoặc xuất hiện các triệu chứng sau:
- Sút cân nhanh chóng.
- Mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội nặng, khó đáp ứng với điều trị như viêm phổi do Pneumocystis, nhiễm nấm Candida, lao ngoài phổi…
- Sa sút trí tuệ liên quan đến HIV/AIDS.
- Ung thư cổ tử cung xâm lấn.

Viêm phổi bội nhiễm là bệnh lý thường gặp ở người bệnh HIV/AIDS giai đoạn 4
Bệnh Herpes sinh dục
Herpes sinh dục là bệnh lây truyền qua đường tình dục phổ biến do virus HSV-2 và số ít do HSV-1 gây nên. Virus Herpes sẽ xâm nhập vào cơ thể người lành thông qua niêm mạc hoặc vùng da có tổn thương sau đó có thể tồn tại suốt đời tại tế bào thần kinh dưới dạng tiềm ẩn.
Các triệu chứng khởi phát của bệnh thường xuất hiện sau 2 - 12 ngày kể từ khi phơi nhiễm. Người bệnh có thể gặp các biểu hiện sau:
- Sốt, đau đầu, đau cơ.
- Sưng đau hạch bạch huyết.
- Cảm giác ngứa rát, châm chích ở các tổn thương tại cơ quan sinh dục trong 24 - 48 giờ.
- Xuất hiện các nốt mụn nước nhỏ li ti tạo thành chùm trên da.
- Đau buốt khi đi tiểu.
- Tiết dịch bất thường từ âm đạo hoặc đầu dương vật.

Các mụn nước mọc thành chùm là dấu hiệu điển hình của bệnh Herpes sinh dục
Nhiễm trùng papillomavirus ở người (HPV), mụn cóc sinh dục
Nhiễm HPV hay nhiễm papillomavirus ở người là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây ung thư cổ tử cung ở nữ giới cũng như làm tăng nguy cơ mắc ung thư hầu họng, dương vật hoặc hậu môn. Đây là bệnh lý lây truyền qua đường tình dục phổ biến hiện nay với khoảng hơn 200 chủng, trong đó có một số tuýp thường gặp gây bệnh đường sinh dục gồm:
- Sùi mào gà: do type 6 và 11 gây nên với biểu hiện xuất hiện các nốt sùi mềm, màu hồng hoặc màu da giống hình bông súp lơ, thường kèm theo chảy máu khi quan hệ tình dục.
- Các loại ung thư: bao gồm 2 type HPV có nguy cơ cao nhất là 16 và 18.
Viêm gan do virus
Viêm gan do nhiễm virus viêm gan B và viêm gan C là những bệnh lý thuộc nhóm lây truyền qua đường tình dục. Bệnh thường lây truyền qua quan hệ tình dục không an toàn, đường máu hoặc từ mẹ sang con.
Các triệu chứng thường gặp của bệnh viêm gan do các chủng virus trên gồm:
- Chán ăn, mệt mỏi.
- Suy nhược cơ thể.
- Đau bụng trên bên phải.
- Da vàng, mắt vàng.
- Nước tiểu sẫm màu như nước chè.
Bệnh giang mai
Bệnh giang mai là bệnh lý lây truyền qua đường tình dục do vi khuẩn Treponema pallidum gây nên. Các biểu hiện của bệnh ở giai đoạn đầu thường khá kín đáo nhưng về sau điển hình và có nguy cơ xảy ra nhiều biến chứng nếu không được điều trị kịp thời. Các triệu chứng bệnh qua từng giai đoạn gồm:
Giai đoạn 1
- Xuất hiện săng giang mai là các vết loét không đau, không ngứa rát.
- Thường tự khỏi sau 3 - 6 tuần.
Giai đoạn 2
- Sốt nhẹ.
- Sưng hạch bạch huyết vùng bẹn.
- Mệt mỏi, đau họng, đau cơ.
- Xuất hiện ban đỏ hoặc nâu tại lòng bàn tay, bàn chân.
Giai đoạn 3
- Giai đoạn tiềm ẩn, không có biểu hiện lâm sàng.
- Có thể kéo dài từ 1 năm đến hàng chục năm.
Giai đoạn 4

Nổi ban đỏ ở tay, chân có thể là triệu chứng của giang mai giai đoạn 2
3Yếu tố nguy cơ mắc bệnh STD
Bệnh lý lây truyền qua đường tình dục STD thường lây truyền nhanh chóng và có nguy cơ tái phát nhiều lần. Đặc biệt, bạn sẽ có nguy cơ mắc bệnh cao hơn nếu kèm theo các yếu tố sau:
Quan hệ tình dục không an toàn
Quan hệ tình dục không an toàn, không dùng bao cao su hoặc dùng sai cách là nguyên nhân hàng đầu làm tăng nguy cơ mắc STD. Ngoài ra, việc quan hệ với nhiều bạn tình khi chưa nắm rõ được tình trạng sức khỏe cũng khiến tỷ lệ mắc STD cao hơn.
Tiền sử mắc các bệnh STI
STI hay được gọi là bệnh nhiễm trùng lây tại đường sinh dục như viêm âm đạo do chlamydia, lậu, herpes… thường có nguy cơ tái phát nhiều lần. Vì thế, ở người có tiền sử mắc các bệnh STI thì nguy cơ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục cũng cao hơn.

Tiền sử mắc STI nhiều lần cũng là yếu tố tăng nguy cơ của bênh lây truyền qua đường tình dục
Tiêm chích ma tuý
Bên cạnh lây truyền qua đường quan hệ tình dục thì phần lớn các bệnh STD đều lây truyền qua đường máu. Do đó, việc sử dụng chung kim tiêm ở người nghiện ma túy là một trong những yếu tố nguy cơ làm tăng tỷ lệ mắc STD ở nhóm đối tượng này.

Người nghiện ma túy sẽ có nguy cơ cao mắc các bệnh STD
Lây truyền từ mẹ sang con
Phụ nữ mang thai đang mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục có thể truyền bệnh cho thai nhi thông qua tuần hoàn tử cung - rau hoặc khi sinh thường. Việc này có thể dẫn đến nhiều biến chứng cho thai nhi và trẻ nhỏ như dị tật bẩm sinh, sinh non, nhẹ cân hoặc thậm chí là tử vong chu sinh.[1][2]
4Biện pháp phòng ngừa các bệnh STDs
Việc phòng ngừa các bệnh lý lây truyền qua đường tình dục là rất quan trọng giúp đảm bảo an toàn cho sức khỏe của mỗi chúng ta. Bạn có thể áp dụng một số biện pháp phòng ngừa dưới đây:
Quan hệ tình dục an toàn
Quan hệ tình dục an toàn là biện pháp giúp phòng ngừa lây truyền các bệnh tình dục hiệu quả và an toàn bao gồm:
- Sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục.
- Dùng bao đúng cách theo hướng dẫn của nhà sản xuất.
- Thực hiện quan hệ tình dục chung thủy "1 vợ - 1 chồng".
Xét nghiệm định kỳ (cho bản thân và bạn tình)
Các bệnh lý lây truyền qua đường tình dục thường có biểu hiện mơ hồ ở giai đoạn đầu khiến việc phát hiện bệnh sớm để điều trị gặp nhiều khó khăn. Vì thế, bạn nên thăm khám và làm xét nghiệm tầm soát định kỳ cho cả bản thân và bạn tình để kịp thời điều trị bệnh mỗi 6/12 tháng/lần.

Bạn nên sàng lọc bệnh định kỳ cho cả bản thân và bạn tình để điều trị sớm
Sử dụng biện pháp an toàn
Ngoài ra, bạn có thể áp dụng một số biện pháp giúp tự bảo vệ bản thân như:
- Không quan hệ tình dục khi chưa biết rõ tình trạng mắc bệnh truyền nhiễm của bạn tình.
- Sử dụng găng tay khi tiếp xúc với máu và dịch tiết của người khác.
Không sử dụng chất kích thích (rượu/ma tuý)
Bạn cũng không nên sử dụng các chất kích thích như rượu bia hoặc ma túy để có thể giữ được sự tỉnh táo. Từ đó, giúp hạn chế mắc phải những sai lầm đáng tiếc dẫn đến việc lây nhiễm các bệnh STD.
Uống thuốc dự phòng phơi nhiễm (PrEP)
Thuốc dự phòng phơi nhiễm (PrEP) là biện pháp giúp ngăn ngừa lây nhiễm HIV/AIDS ở những đối tượng có nguy cơ cao mắc bệnh như:
- Người có bạn tình nhiễm HIV/AIDS.
- Người quan hệ tình dục với nhiều bạn tình.
- Nam giới đồng tính hoặc người chuyển giới nữ.
- Người nghiện ma túy hoặc gái bán dâm…[1][2]
Xem thêm:
Hy vọng bài viết này đã đem đến cho bạn những kiến thức bổ ích về các bệnh lý lây truyền qua đường tình dục. Hãy chia sẻ bài viết này cho những người thân và bạn bè xung quanh để mọi người cùng nắm được thông tin nhé!
Nguồn tham khảo
Sexually transmitted diseases (STDs)
https://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/sexually-transmitted-diseases-stds/symptoms-causes/syc-20351240Ngày tham khảo:
24/04/2025
Sexually Transmitted Infections
https://my.clevelandclinic.org/health/diseases/9138-sexually-transmitted-diseases--infections-stds--stisNgày tham khảo:
24/04/2025
Xem thêm 
Xem nguồn
Link bài gốc
Lấy link!https://giadinhmoi.vn/benh-std-la-gi-dau-hieu-trieu-chung-va-cach-phong-ngua-hieu-qua-d95234.html